MỤC LỤC BLOG

Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu- phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu- phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

GIỮ PHỤ ÂM ĐẦU, TIẾN HÀNH BIẾN ĐỔI VẦN – MỘT PHƯƠNG CÁCH TẠO TỪ TRONG TIẾNG VIỆT

BÚT NGUYÊN TỬ
(
NGUYỄN VĂN HÙNG - Gv Trường CĐSP SÓC TRĂNG-  Sáng kiến 2010)
Email: butnguyentu@
gmail.com

1. Chức năng đầu tiên của ngôn ngữ nói chung và của từ nói riêng là gọi tên sự vật hiện tượng, do đó để định danh được thế giới phong phú, phải tạo tác từ.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

NÀNG TIÊN VƯỢN (Tìm hiểu truyện thơ Lâm Tuyền Kì Ngộ)

TIỂU HÙNG TINH
ảnh internet

          Lâm Tuyền Kì Ngộ  là truyện thơ gồm hơn trăm bài bát cú Đường luật, một tác phẩm khuyết danh. Nội dung  dựa theo tích truyện Trung Quốc  đời Đường miêu tả tình duyên giữa một nho sinh và con vượn bạch. Truyện thể hiện tính chất lãng mạn và nhân đạo, mạnh dạn biểu hiện những khát khao hạnh phúc của con người.

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

Thơ NGÔN CHÍ và TRIẾT LÍ XUẤT XỬ của NGUYỄN TRÃI

BÚT NGUYÊN TỬ
ảnh internet

            XUẤT (hành, nhập  thế  hoạt động)  và  XỬ (tàng, xuất thế, ẩn  dật)  là hai khái niệm  phổ   biến  trở thành  triết  lí nhân sinh  của tầng lớp  nho  sĩ. Nguyễn  Công Trứ  từng   viết  Hành tàng  bất nhị  kì  quan- Xưa nay  xuất  xử thường hai lối. Sĩ gặp  thời  vua  sáng tôi hiền, được  trọng   dụng, phát huy được tài  năng thì  làm  quan  không thời lui về   ẩn dật  để  di  dưỡng tinh thần,  giữ   gìn khí tiết. Có thể  nói như Lâm Ngữ Đường  là luôn có  sẵn  một ông Khổng  và một ông Lão trong con người nho sĩ.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Chinh phụ ngâm khúc - BÓNG TRĂNG TÂM TƯỞNG

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Chinh  phụ ngâm khúc, nỗi niềm của  người  phụ  nữ   có chồng  đi chinh chiến, trong  đó, những diễn  biến tâm lí nào nhớ thương, thao thức, lo âu, cô  quạnh,  buồn tủi, thất  vọng…  như những  cung bậc vang lên từ sâu thẳm của một tâm  trạng triền miên u sầu.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

CUNG OÁN NGÂM KHÚC (Nguyễn Gia Thiều) - NGỮ NGỮ KINH NHÂN

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

Viết về Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Lý Văn Phức đã dùng cặp câu đối xứng để ca ngợi năng lực văn chương "xuất thần" của ông: "Nhất thị ứng khẩu thành tụng, ngữ ngữ khả nhân; Nhất thị thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân." (Một mặt, khi ông ứng khẩu mở lời thành thơ, thì lời lời chữ chữ đều vừa vặn, đẹp đẽ, đi vào lòng người. Mặt khác, khi ông dành tâm huyết để gọt giũa, nghìn lần nhồi nặn, trăm lần nung luyện thành câu thơ, thì lời lời chữ chữ đều làm cho người nghe phải kinh ngạc, thán phục).

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

DỊCH CHUYỂN THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU (*)

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Thời  gian trừu tượng, vô thanh   vô ảnh  vô hình, hiện  hữu nhưng không thể  cảm nhận trực tiếp mà chỉ có thể cảm nhận gián tiếp thông qua sự vật hiện tượng  do  giác quan thu lại. Trong  văn chương, nhờ ngôn ngữ hình tượng hóa, người đọc liên tưởng và cảm nhận được  sự  dịch chuyển.

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

CẢNH NÀO CẢNH CHẲNG ĐEO SẦU (Sự hòa quyện CẢNH - TÌNH trong Truyện Kiều)

TIỂU  HÙNG TINH

ảnh internet

            Tức  cảnh   sinh tình, tình  phát  sinh từ  cảnh   còn đây,  với Nguyễn Du, Cảnh nào  cảnh  chẳng  đeo  sầu, Người  buồn cảnh có vui đâu bao giờ,   tình có  trước, thấm đẫm và chi  phối sự vật.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

PHÉP TRÙNG ĐIỆP TRONG VĂN CHƯƠNG

TIỂU  HÙNG TINH

 ảnh internet

            Trùng điệp là  biện pháp nghệ thuật nhấn  mạnh, lặp  lại  các yếu tố   vần, từ,  câu nhằm  giữ  lại  dư  âm, hình   ảnh tạo  sự  liên kết, gây cảm   xúc thẩm mĩ, tăng  sức  biểu  hiện  cho tác phẩm.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

BÚT PHÁP KHOA TRƯƠNG

TIỂU  HÙNG TINH

ảnh internet

            Khoa  trương (khoa đại, phóng  đại,  nói  quá, cường  điệu) là thủ pháp nghệ thuật miêu tả sự vật, hiện tượng bằng cách làm tăng  đặc điểm của đối tượng. Khoa  trương là  nói phóng to lên, cần  phân  biệt   với nói  giảm (nói cho ít, cho nhỏ lại). Nói  ăn bữa  cả núi  cơm (ăn  quá nhiều- phóng  đại) khác với   ăn bữa  vài  hột cơm (ăn  quá ít- nói  giảm).

            Khoa trương có tác dụng:

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

MA LỰC ÂM THANH TRONG TIẾNG ĐÀN THÚY KIỀU

BÚT  NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Đoạn  trường tân thanh- tiếng  kêu  đứt  ruột, tư tưởng   định  mệnh   mà  biểu  hiện của nó là thuyết tài  mệnh tương  đố, tạo hóa ghen má  hồng ngự  trị   xuyên suốt,  biểu  hiện  rõ   rệt  thông   qua  Thúy  Kiều, nhân vật  trung tâm  của tác  phẩm.

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2025

TẦNG NGHĨA TRONG VĂN CHƯƠNG

TIỂU  HÙNG TINH

ảnh internet

            Chữ  mang  nghĩa, lời chuyển ý, trong  văn  chương, ngôn từ,   hình tượng, các thủ pháp  nghệ  thuật   đều nhằm chuyển tải  một thông  điệp về con người,  cuộc đời…  Cảm thụ  văn chương chính  là thưởng thức  thức  kết  cấu,  tình tiết, hình tượng, ngôn từ để khám  phá những ý nghĩa, những giá  trị ẩn  chứa  trong  đó.

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2025

TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI

BÚT NGUYÊN TỬ

 ảnh internet

            Chuyển từ chế  độ  quân chủ  lên dân chủ, từ tư tưởng quân quyền   đến dân  quyền  là  xu thế, là  quy luật  tất yếu trong  dòng chảy lịch  sử  xã  hội.

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2025

NHAN SẮC THÚY KIỀU

TIỂU HÙNG TINH

ảnh internet

Truyện Kiều, thiên  đoạn  trường về một  kiếp  hồng nhan, Nguyễn Du    đã  minh  họa và  đau đớn với  quan niệm “tạo  vật  đố hồng nhan” (Tạo hóa ghen  ghét người  đẹp). Kiều  là một  trang giai nhân, nhan  sắc nàng thế nào?

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

TRĂNG trong QUỐC ÂM THI TẬP của NGUYỄN TRÃI

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Trăng  là nguồn mạch cảm  hứng thơ, thi   sĩ  nào  mà chẳng  một  lần rung  cảm với  bóng trăng. Với Nguyễn Trãi thì nguồn  cảm hứng  vô tận  đó  đã thấm  sâu vào thơ, nhập  vào  triết  lí  sống, in  đậm vào  phong thái  sinh hoạt. Tập thơ Quốc  âm của ông có 257 bài, trăng  xuất hiện  trong   59  bài (# 23%), trong  đó, Tự thán có  41  bài thì  13  bài có trăng (31,7%), Thuật  hứng   có   25  bài  thì trăng  xuất hiện 10 lần (40%),  một tần  số trăng cực   kì lớn  mà  các nhà thơ  xưa nay  khó ai sánh  kịp.

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

NỖI BUỒN TÓC BẠC (Bạch phát bi)

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Đầu bạc răng long, thành ngữ  chúc tụng sự trường  tồn với thời  gian của hôn nhân đôi lứa, dấu  hiệu biểu hiện vui  tươi, tin tưởng,  hi  vọng, ý nghĩa này họa hiếm trong văn chương, đầu bạc với ý nghĩa dấu hiệu tích đọng thời  gian mà thời  gian  thì  vô tình  làm cho  mọi thứ  suy tàn mới  được  dùng  phổ  biến.

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2025

Chữ XUÂN trong TRUYỆN KIỀU

TIỂU HÙNG TINH

ảnh internet

            Xuân biểu trưng ý niệm trẻ trung đầy sức sống, một trạng thái tốt lành mà ai cũng mong muốn, khát khao.  Bài viết này đi vào Truyện Kiều- khúc bi ca về thân phận  người phụ nữ bất hạnh, tiếng khóc tràn qua tác phẩm nhưng cũng từ “tiếng kêu đứt ruột” này, chữ XUÂN (có khi xuất hiện như một từ, có khi xuất hiện như một tiếng- thành tố của từ ghép) biểu hiện sức sống xuất hiện với tần số lớn (hơn 50 lần, chưa kể đến những câu từ xuân xuất hiện đến 2 lần).

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2025

MÙA THU TRONG THI CA

TIỂU  HÙNG TINH

ảnh internet

            Thu- mùa của thi nhân, các nhà thơ xưa nay  đều lấy thu  làm  cảm  hứng   sáng tác. Cuộc   sống hiện đại hối hả  thiếu vắng thiên nhiên làm cho con người ngày càng  xa lạ   với  cảnh tình thu, còn mấy  ai thơ thẩn buổi  chiều thu, còn ai ngồi  ngắm bóng  trăng thu, thả  hồn  trên dòng   sông thu... Tình thu cảnh thu hiện thực  biết tìm đâu, đành tìm đến văn chương.

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2025

Đọc lại bài THU ĐIẾU của NGUYỄN KHUYẾN

TIỂU HÙNG TINH

ảnh internet

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2025

Chữ XUÂN trong TRUYỆN KIỀU

TIỂU HÙNG TINH

ảnh internet

              Xuân biểu trưng ý niệm trẻ trung đầy sức sống, một trạng thái tốt lành mà ai cũng mong muốn, khát khao.  Bài viết này đi vào Truyện Kiều- khúc bi ca về thân phận  người phụ nữ bất hạnh, tiếng khóc tràn qua tác phẩm nhưng cũng từ “tiếng kêu đứt ruột” này, chữ XUÂN (có khi xuất hiện như một từ, có khi xuất hiện như một tiếng- thành tố của từ ghép) biểu hiện sức sống xuất hiện với tần số lớn (hơn 50 lần, chưa kể đến những câu từ xuân xuất hiện đến 2 lần).

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2023

Thử nêu GIẢ THUYẾT VỀ SỰ HÌNH THÀNH LÀNG PHÚ LIÊU (thuộc xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)

NGUYỄN VĂN HÙNG
ảnh internet

1. Vấn  đề  cần giải  quyết:

- Làng  hình thành  từ bao  giờ, vào  triều  đại  nào? Những  biến đổi  về tên  làng.

-  Ai  là tổ  khai khẩn, có  tổ khai  canh không? Các  họ  cùng  khai  khẩn một lúc hay   chia  ra từng giai  đoạn. Quan hệ   giữa  các họ khai khẩn và các họ đang  tồn  tại  hiện nay.

2. Đánh giá những chứng  tích, văn bản, bi kí, truyền thoại làm cơ  sở.

- Mộ làng: Mộ  đất không  bia, bia  dựng về  sau  này (1991), thông tin sơ lược. Có 1 bia mộ  ghi tiền khai khẩn, 1 bia mộ  ghi hậu khai canh, 6 bia mộ ghi kế hậu khai canh. Căn  cứ  chính.

- Nghè làng: Có miếu thờ,  ghi các họ khai khẩn, câu  đối, hoành phi. Căn  cứ  chính.

- Văn  bia dựng tại  chùa làng  ghi  sắc phong thời vua  Khải  Định   cho  4  họ (vị) khai  khẩn. Căn  cứ  chính yếu và đáng tin cậy nhất.

- Phủ  ý  các  họ  tộc Nguyễn Đức có  đề cập  đến họ Dương (họ khai khẩn); phủ ý  họ  Nguyễn Quang có  đề  cập  đến biến  đổi tên làng, tên  họ; họ Nguyễn Văn và Nguyễn Đình  không  còn phủ ý.

- Các tài liệu lịch  sử:  Theo Quốc  sử  quán  triều  Nguyễn thì  làng   được thành lập từ thời  Lê. Ô châu cận lục  của Dương Văn An đời  Mạc  cũng có  đề  cập  đến làng. Căn  cứ chính.

 Một  căn cứ tham khảo  nữa là  lịch  sử thành lập  làng Bích La kế  cận: Năm 1527 (Mạc Đăng Dung lên ngôi), 14 hộ dân theo phó tướng triều Mạc Lê Mậu Doãn (Doãn Lộc hầu) thành lập làng Bích La.

- Các truyền thoại về  làng  là những  câu chuyện nhuốm màu  lịch  sử nhưng còn thiếu  căn cứ, lắm khi chồng  chéo, mâu thuẫn.

+ Tổ  tiên  làng   di  cư  từ Thanh Nghệ Tĩnh  vào bằng  đường  biển, đến Vân Huề (Triệu Vân) thì  phân tán, một  số tới vùng  đất làng  hiện nay và thành lập làng.

+ Làng  được thành  lập  từ thời các chúa Nguyễn (từ khi Nguyễn Hoàng vào  trấn giữ).

+ Lúc  đầu, làng   do một  võ  quan họ Trần tên Trần Trọng thành  lập. Đến đời chúa Nguyễn,  chúa  giao cho  một  văn  quan họ Nguyễn  tên Nguyễn Phục  thành lập. Văn  quan  họ Nguyễn  quy tụ  một  số thuộc  cấp   có họ khác nhau  rồi cho  đổi  thành họ Nguyễn (Nguyễn Quang, Nguyễn Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình). Họ Nguyễn Hữu  tách ra  từ  họ Nguyễn Quang.

+ Có  suy  đoán rằng  từ  họ Nguyễn khai khẩn (Nguyễn Phục) chia làm 4  họ Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình. Con  cháu  4  họ   đó trong làng hiện nay  là  con cháu cụ Nguyễn Phục.

+ Trong  4  họ khai khẩn  làng, ba  họ Trần, Dương, Phan  không   còn, chỉ  họ Nguyễn  nối truyền  con cháu  đến ngày nay.

+ Làng  từng  có tên Phú Xuân, sau  vì kị húy (trùng tên với kinh thành Phú Xuân) nên  đổi thành Phú Liêu (có  ghi trong lời Tựa phủ ý họ Nguyễn Quang- 1937).

+ Tên  của  bốn  vị khai khẩn  tuần tự là: Trần Trọng, Nguyễn Phục, Dương Phẩm, Phan Long. Tên  của  các vị  tổ họ là Nguyễn Đức  Thưởng, Nguyễn (Quang) Thiệu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đình Quý Công (không  rõ  tên  nên  gọi là   quý  công (quý ông).

Tin rằng các  truyền thoại trên không phải   bịa  đặt  mà  do tam sao thất bổn hoặc  suy  đoán thiếu  căn cứ,  cần  chọn lọc, phục  chính lại. Đây cũng  là căn cứ chính để   xem  xét.

3. Dựa   vào những  căn cứ chính, lấy  đó làm  cơ  sở, những  điều  sau  đây  cần  được thừa nhận:

- Làng   được thành  lập  từ thời  nhà Lê (theo  Quốc  sử  quán triều   Nguyễn) tức  trước  1527 (Lê Cung Hoàng  nhường ngôi  cho Mạc Đăng Dung). Trong Ô châu cận lục  của Dương Văn An (1555) đã  ghi tên làng là Trúc Liêu  thuộc tổng An Cư, huyện Đăng Xương (Vũ Xương), phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa (Huyện  Vũ  Xương, phủ Triệu Phong đã có từ thời Lê- năm  1469 Lê Thánh Tông  đã  đổi tên huyện Hoa Lăng thành huyện Vũ (Võ) Xương thuộc phủ Triệu Phong). Có thành  lập thì  đương nhiên có khai  khẩn, làng  được thành lập triều Lê  thì vị khai khẩn  đầu  tiên phải ở vào  triều Lê. Ngài  Trần Trọng là  vị  đứng  đầu trong  các vị khai khẩn (và  có thể  có thêm các vị  khai khẩn khác)  phải  ở vào thời  đó.

- Làng   do  4 vị (họ) Trần, Nguyễn, Dương Phan khai khẩn còn ghi  rõ  trong miếu  thờ. Đời Khải Định  tam niên (1918) đã  sắc  phong thần cho  bốn  vị: Sắc Khai Khẩn Trần Đại Lang, (Nguyễn Đại Lang, Dương Đại  Lang, Phan  Đại  Lang) Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng  Linh Phù Tôn Thần (Tước phong vị thần có công "che chở, giúp đỡ vương triều lúc trung hưng và linh thiêng phù hộ cho nhân dân". Tên của  bốn vị là Trần Trọng, Nguyễn Phục (4), Dương Phẩm, Phan  Long.

              - Làng  có 4 họ chính là Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình (các  họ Nguyễn Đăng, Phạm, Nghiêm, Trương, Nguyễn gia nhập vào  làng   về  sau này). Người  giữa  4 họ  có thể hôn thú  với nhau chứng tỏ  các họ không  cùng huyết tộc thân thuộc. Từ  đó có thể  suy ra  rằng người trong 4  họ trên không phải  là  con cháu của  họ Nguyễn  được thờ làm khai khẩn. Nếu  họ cùng là  con cháu  họ Nguyễn khai khẩn thì  sẽ phạm  vào loạn luân. Nếu có việc “chia họ để  hôn thú” này thì sao “sự  biến” lớn như vậy lại không  được lưu truyền. Đó là  điều  không thể. Như vậy họ Nguyễn đứng tên khai khẩn không  còn con cháu ở làng.

              - Bốn  họ  trong  làng không phải anh   em cùng họ chia ra, là  4  họ  độc lập, bình  đẳng, không  có họ trên họ  dưới, họ  anh  họ  em.

              - Bốn  họ Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình (các vị  tổ họ là Nguyễn Đức  Thưởng, Nguyễn (Quang) Thiệu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đình… không phải  là  bốn họ khai khẩn, không thờ ở nghè làng mà có  nhà thờ  họ  riêng. Đây  là  4  họ tới  canh tác xây  dựng  làng về  sau (tới canh tác  sau khi làng hình thành, đã  được các họ  khác khai  khẩn). Xưa nay làng chỉ  truyền tụng  và thờ phụng 4 họ khai khẩn (Cả trong các mộ  tổ làng, 1 mộ  ghi tiền khai khẩn, 1 mộ  ghi hậu khai canh, 6 mộ ghi kế hậu khai canh- theo bia dựng 1991) không  nói  đến các tổ  họ là  khai  canh (xem thêm chú thích (5))            

4. Vấn đề tồn nghi cần  được  xác minh làm rõ:

Làng chỉ  có khai khẩn hay có  cả khai canh? Trong  sắc phong ghi ở bia dựng trong khuôn  viên chùa năm 1918 chỉ ghi 4 vị khai khẩn còn  trong bia các mộ tổ làng  dựng năm 1991 thì ghi Tiền khai khẩn (mộ bia ở Học  Xá), Hậu khai canh  (mộ bia ở góc Cồn Hàn), Kế hậu khai canh ở 6  bia  mộ  còn lại. Như vậy phải chăng  làng có  cả khai khẩn lẫn khai  canh theo mô thức Tiền khai khẩn - hậu khai canh? Sắc phong trong bia dựng ở chùa làng là tài liệu chính  xác nhất vì xuất hiện sớm (1918), được nhà nước phong kiến chính thức  thừa nhận và vua Khải Định ban sắc phong phải là căn cứ  chính yếu. Việc ghi trên bia mộ làng là tiền khai khẩn, hậu khai canh, kế hậu khai canh căn  cứ vào đâu,  dựa trên cơ  sở, tài liệu nào? Tại  sao không  dựa vào bia dựng ở chùa? Sự khác  biệt này phải chăng  do việc ghi trên bia  mộ làng  năm 1991 thiếu căn cứ hoặc trước  đây có   cả khai khẩn lẫn khai canh nhưng khi  đề nghị  ban sắc phong thì chỉ  ghi khai khẩn, nếu  có thì chứng lí  đâu? Sự kiện dựng và ghi trên bia làng  diễn ra  năm 1991, nhiều người tham gia vào việc hệ  trọng này vẫn  còn sống, cần  xác minh làm rõ, nếu không thì vấn  đề tồn nghi  này  sẽ kéo dài  đến muôn  đời. (1)

5. GIẢ THUYẾT  THÀNH  LẬP LÀNG (nêu 2026)

Làng  được thành  lập  từ thời  nhà Lê do ngài  Trần Trọng và quý ngài Dương Phẩm, Phan  Long đứng tên khai khẩn (Tiền khai khẩn). Qua thời  Mạc, thời  Lê Trịnh có thể   do không  đủ  số dân đinh khai phá, bỏ hoang nhiều  đất  đai nên  các chúa Nguyễn đã  cho tái  khai khẩn làng và  đổi  tên  từ Trúc Liêu thành Phú Liêu. Các  họ tộc Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình đến  sau (khoảng đầu thời các chúa Nguyễn)  đã đồng lòng tôn một  vị  danh nhân  được các nơi  thuộc  vùng  duyên hải miền Trung thờ như thần nhân hiển linh  là Nguyễn Phục (4)  làm  khai khẩn (Hậu khai khẩn).

----------------------------

CÁC  GIẢ THUYẾT  TRƯỚC ĐÂY (để tham khảo)

Giả thuyết thành  lập (nêu 2023):

Làng  được thành  lập  từ thời  nhà Lê do ngài  Trần Trọng và  các ngài Dương Phẩm, Phan  Long đứng tên khai khẩn (Tiền khai khẩn). Qua thời  Mạc, thời  Lê Trịnh có thể   do không  đủ  số dân đinh khai phá, bỏ hoang nhiều  đất  đai nên  các chúa Nguyễn đã  cho tái  lập và  đổi  tên  từ Trúc Liêu thành Phú Liêu, giao ngài Nguyễn Phục đứng tên khai khẩn tiếp (Hậu khai khẩn)(2). Sở  dĩ  đặt vấn  đề thiếu  dân đinh  ở  đây vì ba họ  khai khẩn là Trần, Phan, Dương từ  xa  xưa đã  không  con cháu sinh  sống ở làng, họ Dương  cũng chỉ  truyền  đến ngang   đời thứ  5 của  họ Nguyễn Đức, chứng  tỏ cư  dân của  thế hệ khai khẩn  trước quá ít ỏi, đất  đai  hoang hóa. Ngài  Nguyễn Phục với  danh nghĩa khai khẩn đã  quy tụ  các thuộc  cấp của những  họ khác nhau là Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình  tiếp  tục vỡ hoang (3) và phát triển  làng.

Giả thuyết  bổ   sung về Hậu khai khẩn (nêu 2026): Các  họ tộc Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình đến  sau (khoảng đầu thời các chúa Nguyễn)  đã đồng lòng tôn một  vị   danh nhân  được các nơi  thuộc  vùng  duyên hải miền Trung thờ như thần nhân hiển linh  là Nguyễn Phục (4)  làm  khai khẩn (Hậu khai khẩn).

Hai  câu đối ở  miếu thờ Nguyễn Phan phải chăng hàm ý  điều này:

靈 扶 蒙  帝 眷 - LINH PHÙ MÔNG  ĐẾ  QUYẾN  Anh linh  phù hộ độ trì, được ơn trên (Thượng  đế/Hoàng đế) thương tưởng, đoái hoài mãi mãi.

功 髙 聚 族 成   -  CÔNG  CAO TỤ TỘC THÀNH  (Công lao to lớn trong việc quy tụ dân cư, giúp các dòng tộc được hình thành và phát triển vững mạnh)

-------------------------------------------

Chú thích:

(1) Khai khẩn hay  khai canh làng   đều là người  đầu  tiên khai phá thành lập làng theo  các  giai  đoạn. Tuy vậy, danh  xưng khai khẩn  có thể dùng để tôn xưng  đối với những người  có công trạng lớn với  làng về  sau.

Trước  đây, mộ  họ mộ phái đa phần  đều  được  dựng bia  vì người ta biết  rõ, còn  mộ  làng   8 ngôi đều không có  bia, chỉ  gọi là mả  làng, không phải  vì làng  không  đủ tài lực mà  vì các cụ xưa thận  trọng, không  biết  rõ tên hiệu, thế thứ, tôn xưng, danh  vị nên không  dám tùy  tiện dựng  bia. Nay (1991) các vị  căn cứ vào  đâu  để  dựng  bia truyền  đời?

(2) Hiện tượng nhiều  đời khai khẩn (Tiền khai khẩn - Hậu khai khẩn) cũng phổ  biến, thậm chí có nơi những người  có  công  đức lớn  trong  việc   xây  dựng làng  xã về sau  có khi cũng  được tôn làm khai khẩn, do đó mới có hiện tượng khai  khẩn  trước và khai khẩn  sau (Tiền- hậu  khai khẩn).

(3) Quan niệm Tiền khai  canh hậu khai khẩn phổ  biến ở nhiều làng   xã  hơn  là  quan niệm Tiền khai khẩn hậu khai canh. Trong  sắc phong thời trước, ở những  làng  có cả  khai khẩn và khai  canh thì thường  đặt khai  canh  trước khai khẩn. Làng chỉ  có các tôn xưng khai khẩn khi đề nghị vua  sắc phong cho  4  vị  tổ làng, điều này nhất  quán  với quan niệm Tiền  khai khẩn - Hậu khai khẩn.

(4) Phải chăng  đây là ngài Nguyễn Phục được  thờ  ở nghè Làng?

NGUYỄN PHỤC- TIỂU  SỬ THEO AI

Nguyễn Phục không phải là quan văn của thời chúa Nguyễn (Đàng Trong) mà ông thực chất là một danh thần, quan văn chính trực thời Lê sơ dưới triều vua Lê Thánh Tông. Sự nhầm lẫn này thường xuất phát từ việc ông được thờ phụng rất rộng rãi tại miền Trung và miền Nam (vùng đất do các chúa Nguyễn khai phá) và được các triều đại chúa Nguyễn, nhà Nguyễn sau này liên tục truy phong sắc thần.

Thân thế và Sự nghiệp thời Lê Sơ

Nguồn gốc: Nguyễn Phục (còn gọi là Phục Công, hiệu Tùng Giang tiên sinh) quê ở làng Đoàn Tùng, huyện Gia Phúc (nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Học vị: Ông đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ đệ tam danh) năm 1453 dưới triều vua Lê Nhân Tông. Chức vụ: Ông từng giữ các chức vụ quan trọng như Chưởng viện Viện Hàn lâm, Sư phó (thầy dạy học của vua Lê Thánh Tông khi chưa lên ngôi) và Đại lý tự khanh. Năm 1470, khi vua Lê Thánh Tông thân chinh đi bình Chiêm Thành, Nguyễn Phục được giao nhiệm vụ Đốc vận quân lương. Khi qua cửa biển Tư Hiền (Thừa Thiên Huế), thuyền chở lương gặp bão lớn dữ dội. Để bảo toàn tính mạng cho binh sĩ và quân nhu, ông ra lệnh neo đậu chờ bão tan khiến quân lương đến trễ so với kỳ hạn. Do kỷ luật quân đội nghiêm khắc thời chiến, ông bị khép vào tội chết. Ngay sau khi lệnh chém được thi hành, vua Lê Thánh Tông hối hận phái người đem chiếu tha tội đến nhưng không kịp.

Sự hiển linh và Sự tôn kính của thời chúa Nguyễn - nhà Nguyễn.

Sau khi mất, sự chính trực và linh thiêng của ông được người dân dọc theo các cửa biển miền Trung tôn kính phụng thờ. Tước hiệu: Ông được phong là Phi Vận tướng quân hoặc Đông Hải Đại Vương. Thờ tự tại Đàng Trong: Khi người dân xuôi Nam khai hoang lập ấp dưới thời các chúa Nguyễn, tín ngưỡng thờ Nguyễn Phục đã theo dấu chân di dân bén rễ sâu sắc tại vùng đất mới. Các làng mạc Đàng Trong như Dương Xuân (Huế), Hội An (Quảng Nam), Đà Nẵng, cho đến các ngôi đình tại Nam Bộ đều lập miếu thờ ông làm Thành hoàng bổn cảnh để cầu mong sóng yên biển lặng. Sắc phong của triều Nguyễn: Nhận thấy tầm ảnh hưởng lớn của ông đối với tâm linh vùng biển duyên hải, các vua nhà Nguyễn sau này (như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) đã liên tục ban cấp sắc phong gia tặng mỹ hiệu cho ông để khẳng định sự chính thống.

(5) - Khai  khẩn: Là người đầu tiên có công chiêu mộ lưu dân, phát hoang bụi rậm, biến đất hoang thành ruộng đồng để lập nên làng xóm. Do  đứng  đầu bảng phong khai khẩn, theo văn hóa miền Trung, ngài Trần Trọng được tôn kính là bậc Tiền hiền khai khẩn

      -  Đại lang ở  đây được hiểu là người con trai cả hoặc ông lớn (người đức cao  trọng vọng). 

NGUYỄN VĂN HÙNG

30-4-23- Chỉnh  sửa ngày 11 - 8 - 2023 (Sau khi thăm và  xem bia  mộ  làng), chỉnh   sửa thêm năm 2026 (sau khi tham khảo  tiểu sử  Nguyễn Phục  trên AI)

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

PHỤ LỤC : 

1. CÂU  ĐỐI, HOÀNH PHI  NGHÈ  LÀNG PHÚ LIÊU

- Cổng ngoài  thứ nhất:

* 萬  世  所  由 (佔?) 䀡  仰 - Vạn thế  sở (nơi, chỗ)  do (ở, tại) chiêm ngưỡng- (Muôn  đời  sẽ chiêm ngưỡng (hướng  vọng và tôn kính) nơi  đây)

   二  氣   為   之    往    來    - Nhị khí  vị (giúp cho) chi (đã) vãng  lai- (Hai luồng khí Âm và Dương không ngừng qua lại, chuyển hóa lẫn nhau mà tạo nên vẹn toàn sự sống và vũ trụ)

- Cổng  2- Hai  câu  giữa:

* 日 月 祥 光 纔 普 炤 - Nhật nguyệt  tường quang tài phổ chiếu- (Ánh  sáng  lành  của mặt  trời  mặt trăng  cùng chiếu soi  rộng khắp)

  乾 坤 瑞 氣 共 鍾(?)灵 - Càn  khôn thụy (tốt lành) khí cộng chung (hợp lại)  linh-  (Khí  tốt  lành của   trời  đất  hợp lại linh thiêng, hun  đúc nên nhân tài)

* 四 家 功 德 同 天 地 - Tứ  gia công  đức đồng  thiên  địa- (Bốn nhà  công   đức (còn mãi) cùng  trời  đất)

  双 廟 英 灵 自 古 今 - Song miếu  anh linh  tự  cổ kim- (Hai miếu anh linh  tự  xưa nay)

- Các chữ  triện  trong hai miếu: 

 - Miếu bên tả (ngoài  vào, đọc từ phải sang trái): TRẦN  DƯƠNG

 - Miếu  bên hữu (ngoài vào, đọc từ trái sang  phải: NGUYỄN PHAN

    

    

- Ở miếu Thành Hoàng:

*   英  灵   憑    岳  瀆 (?)    - ANH LINH  BẰNG NHẠC ĐỘC (Anh linh dựa  vào núi  cao lạch  sâu- Sự linh thiêng và hiển hách của vị Thần được tụ hội, minh chứng từ linh khí của núi cao sông dài. Khẳng định uy lực có gốc từ Địa linh hội tụ (Sự linh thiêng của Thần được nuôi dưỡng, minh chứng bằng chính long mạch, sinh khí sông núi của vùng đất mà Ngài đang trấn giữ).

     持   護(?)  足   江     山   - TRÌ  HỘ TÚC GIANG   SƠN- (Hộ  trì đủ  đầy (khắp) núi sông)

- Miếu khai khẩn bên tả (trong nhìn ra): 光 於 前 - QUANG Ư  TIỀN-  Rạng  rỡ  đời  trước, Trước  thì  sáng  sủa  rực rỡ- Xưng tụng những người có công  đầu  khai hoang lập ấp)

靈 扶 蒙  帝 眷 - LINH PHÙ MÔNG  ĐẾ  QUYẾN  Anh linh phù hộ độ trì, được ơn trên (Thượng  đế/Hoàng đế) thương tưởng, đoái hoài  mãi mãi
(Có thể hiểu  do  anh linh phù  hộ  độ  trì nên được nhà vua thương tưởng (qua việc ban  sắc phong khai khẩn- còn ghi lại ở  bia chùa)).

功 髙 聚 族 成   -  CÔNG  CAO TỤ TỘC THÀNH  (Công lao to lớn trong việc quy tụ dân cư, giúp các dòng tộc được hình thành và phát triển vững mạnh)

- Miếu khai khẩn bên hữu (trong nhìn ra):       開 必 先 - KHAI TẤT  TIÊN (Mở mang, khai phá, việc  gì cũng  đều phải  có người đi trước làm nền móng. Xưng tụng  lớp  người đi trước mở mang)

任 闢 開 先 步 - NHẬM TỊCH  KHAI  TIÊN BỘ    (Đi  trước  đảm nhận  việc khai phá)

寸 討 荷 洪 恩 - THỐN THẢO HẠ (hà) HỒNG ÂN   (Tấc lòng nhỏ bé, thảo kính của con cháu/bề dưới xin được nghiêng mình nhận hoặc đền đáp ơn huệ to lớn như trời biển).

(?) Những   dấu ? trong ngoặc (?) lưu ý  đến  sự khác biệt trong tài liệu Làng Phú Liêu qua tài liệu và  sách báo xưa nay..

2- VĂN BIA  DỰNG  Ở CHÙA LÀNG

唘 定三 年仲秋- Khải Định Tam Niên Trọng Thu (Khải Định năm thứ  3 (1918), tháng  8)

勑 開 墾 陳 大 郎 爵(?)封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Trần Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần

勑 開 墾 阮 大 郎 爵(?) 封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Nguyễn Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần.

勑 開 墾 揚 大 郎 爵(?)封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Dương Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần.

勑 開 墾 潘 大 郎 爵(?)封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Phan Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần.

(Sắc ban Khai Khẩn cho ông lớn họ Trần (họ Nguyễn, họ  Dương, họ Phan) tước phong vị thần có công "che chở, giúp đỡ vương triều lúc trung hưng và linh thiêng phù hộ cho nhân dân".(**)

夲 社 拝 誌 - Bổn  xã bái chí (Làng  chúng tôi lạy xin ghi lại)

-------------