MỤC LỤC BLOG

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

Thơ NGÔN CHÍ và TRIẾT LÍ XUẤT XỬ của NGUYỄN TRÃI

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            XUẤT (hành, nhập  thế  hoạt động)    XỬ (tàng, xuất thế, ẩn  dật)  là hai khái niệm  phổ   biến  trở thành  triết  lí nhân sinh  của tầng lớp  nho  sĩ. Nguyễn  Công Trứ  từng   viết  Hành tàng  bất nhị    quan- Xưa nay  xuất  xử thường hai lối. Sĩ gặp  thời  vua  sáng tôi hiền, được  trọng   dụng, phát huy được tài  năng thì  làm  quan  không thời lui về   ẩn dật  để  di  dưỡng tinh thần,  giữ   gìn khí tiết. Có thể  nói như Lâm Ngữ Đường  là luôn có  sẵn  một ông Khổng  và một ông Lão trong con người nho sĩ.

            Ngôn  chí (NC)- nói chí, có 21  bài thơ thì tất  cả  đều  hướng vào hai chí  hướng chủ đạo, một chiều là  nhàn tản phóng   dật và chiều ngược lại  là đau  đáu  niềm trung hiếu, mối nợ   quân thân. Trong  quãng  đời  làm  quan, do  từng là  cựu  quan nhà Hồ, con cháu ngoại của  nhà Trần, dẫu có công trạng lớn, đảm  trọng trách  cao nhưng Nguyễn Trãi thường  bị   nghi ngờ,  chèn  ép, thậm chí bị  khinh nhờn  nên đã từ  quan hai lần (1939, 1942), Ngôn chí  xuất hiện chủ yếu  trong  giai  đoạn ông  từ  quan  lui về  trí  sĩ tại Côn Sơn lần thứ nhất (1939-1940).

            Tư tưởng nhàn tản của Nguyễn Trãi được rèn cặp theo triết lí  xuất  xử  của nho  gia  cùng  với những  chiêm nghiệm và  kinh nghiệm  trước hoàn  cảnh thực tế  hình thành, phát  triển. Vua nghi ngờ,  quan kiêu lộng,  chung  quanh đều  là thị  phi tranh  chấp, thế  lực đen tối tìm cách cô  lập, chực hại người quân tử thì ẩn  dật nhàn tản trở thành phương  sách thoái  bộ hay nhất để  bảo toàn thân danh: Đã biết  cửa  quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay  đường lợi cực quanh  co nên  Nẻo có  ăn thì có lo, Chi bằng  cài cửa ngáy  pho pho (NC-19). Giữ mình thanh  liêm, Hiểm hóc cửa  quyền  chăng (chẳng) đụt lặn, không hùa nước đục rửa chân, a tòng làm bậy, muốn thay đổi cục  diện  nhưng không đủ sức xoay  đảo tình thế, trong trường hợp này chỉ  còn cách cứng  cỏi từ   quan: Giũ  bao nhiêu  bụi, bụi lầm, Giơ tay  áo đến tùng lâm (NC-4). Triết    ẩn  dật là lối thoát tốt nhất: Dưới công danh  đeo khổ nhục, Trong  dại dột có phong lưu (NC-2) (chữ  dại dột này về sau Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người  khôn người đến chốn  lao xao) để giữ   gìn  phẩm tiết,  giữ    gìn tinh thần Phú  quý bất năng  dâm, bần tiện bất năng  di, uy  vũ bất năng khuất của  kẻ sĩ.

             Từ  quan,  từ  bỏ  cuộc  sống  sung túc để về  ẩn  cư Côn  Sơn, bắt gặp    hòa nhập  vào môi  trường phù   hợp, bóng   dáng   đại  quan Nhập nội Hành  khiển như một  lão tiên  nông: Mưa thu rưới ba đường cúc, Gió  xuân đưa một  luống  lan. Ẩn  cả  lọ  chi thành thị nữa, Nào  đâu  là chẳng  đất  nhà  quan (NC-16) rõ  Trong dại dột có phong lưu (NC-2). Tác  giả tếu táo nhắc tích Đông Phương Sóc làm  quan thực ra  là ở  ẩn trong   triều  đình, ẩn nơi thị thành còn mình cũng  ẩn     đất nhà quan xem đây   ẩn cả (ẩn lớn).

            Lui về   ẩn  dật, Nguyễn Trãi được tự   do, không bị  lôi kéo vào cuộc   cờ tranh chấp: Thân  nhàn dầu tới dầu lui, Thua được bằng cờ   ai kẻ  đôi, Con  cháu  mựa (chớ) hiềm  song  viết tiện (nghèo khó), Nghìn  đầu cam quýt  ấy là  tôi (NC-12). Ông lấy câu chuyện của  Lí Xung  trong Tam quốc chí  trồng  một nghìn gốc   quýt, bảo  con rằng: “Ta   có một nghìn  cây  làm tôi tớ” (Ngô hữu mộc nô thiên đầu), tác  giả đã  gạt  bỏ lợi danh, dựa  tự nhiên để  sống, thể hiện  tinh thần  tri túc (biết  đủ là  đủ), không   sợ nghèo khó của  nhà nho chân chính.

Tránh   bao chuyện thị phi, rời  xa nhân tình thế thái ấm lạnh  nhạt   nồng, tìm  cõi   sống tách biệt cho riêng mình: Am  trúc hiên mai ngày tháng  qua, Thị phi  nào  đến cõi yên hà (NC-3), sống  đơn  giản không tham cầu vật chất chỉ chú  trọng tinh thần: Án  sách cây đàn  hai bạn cũ, Song  mai hiên trúc một  lòng thanh (NC-6),  sống ẩn  dật   giữa thiên nhiên, giữ  lòng ngay thẳng để   di dưỡng tính  tình: Thuyền chèo  đêm nguyệt  sóng biếc, cây đến ngày xuân    tươi. Phú  quý chẳng tham thanh  tựa  nước, Lòng nào vạy  mỗ hây hây (NC-21).

Với nho gia,  ẩn  dật  không phải là  trốn chạy, hành (xuất) tàng (ẩn, xử)    hai  phương  án thay thế nhau trở thành triết  lí sống thâm nhập  vào nhận thức và  hành   động.  Chính  Khổng Tử, khi  hỏi học trò về chí nguyện, ai  cũng nói  đến  lễ nghĩa,  trị  quốc  bình thiên hạ chỉ  có Tăng Điểm (Tăng Tích)  đáp rằng “Cuối xuân mặc  áo mới, tắm mát ở sông Nghi, hóng gió ở đàn Vũ Vu, ca hát mà về” (Dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi quy). Nghe xong, Khổng Tử thở dài, rồi tán thành: "Ta cũng thích như Điểm vậy!". Sống hòa hợp với thiên nhiên, thanh thản và tự tại thể hiện cảnh giới tâm hồn thư thái, an nhiên, không vụ lợi trần lụy, khao khát sự thanh thản, tự do và một lối sống thể hiện thiên tính, hòa điệu với đất trời.

Thoát  khỏi  vòng lợi  danh, Nguyễn Trãi tìm  được sự  an nhiên tự tại, tìm  lại  được chính mình: Cảnh  tựa chùa chiền lòng tựa thầy, Có thân chớ  phải lợi danh vây. Đêm thanh hớp nguyệt nâng chén, Ngày vắn xem hoa bẻ  cây… Ít nhiều  tiêu sái lòng ngoài thế, Năng  một  ông này  đẹp thú này (NC-10). Sống buông  bỏ tất  cả, ẩn   dật, hòa mình  với thiên nhiên như bước vào một cảnh  giới cao quý của sự  giải  phóng tinh thần tuyệt đối: Quét  trúc bước  qua làn  suối, Tìm mai về đạp  bóng trăng… Một  phút thanh nhàn  trong thuở  ấy, Thiên   kim  ước đổi được hay chăng (NC-15). 

Cuộc  sống  ẩn tàng  dẫu lôi cuốn Hài hoa  còn  bợn  dặm thanh  vân nhưng tinh thần nhập  thế hành   động khó thể   quên: Nợ  quân thân chưa báo được (NC-11). Trung hiếu  phẩm chất định hướng, trở thành đạo lí  sâu sắc làm mực thước    hội   dẫn dắt cuộc  sống: Bui có một niềm  chăng (chẳng)  nỡ trễ, Đạo làm con liễn (lẫn)  đạo làm tôi (NC-1). Phẩm chất  trung hiếu được hun  đúc, được nhận thức tới mức nhập  tâm: Một thân  lẩn  quất đường khao mục, hai  chữ mơ màng việc  quốc gia (NC-7), đau đáu bên  lòng, còn chưa báo  đáp  được thì khác  gì mang  lỗi lớn: Quân thân chưa báo lòng  canh  cánh, Tình phụ  cơm  trời áo cha (NC-7). Đây chính là  động  cơ thôi thúc nhập thế hành   động.     khi bị bạc  đãi, dù  lúc chua   xót  vì bị  chèn ép thị phi, tấm lòng Nguyễn Trãi  vẫn  luôn ghi khắc sâu đậm hai chữ  quân thân, xem như  món nợ: Bát cơm  xoa nhờ   ơn xã tắc, Gian  lều cỏ  đội đức Đường Ngu. Tơ hào  chẳng có đền ơn chúa, Dạy  láng giềng mấy sĩ nhu (NC-14). Ngay  cả  lúc vui thú  ẩn  dật nhàn tản,  tấm lòng  trung  quân ái  quốc   vẫn khôn nguôi:  Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi, Hàu  chất so le khóm cuối làng. Ngâm  sách thằng chài  trong thuở  ấy, Tiếng trào  dậy khắp  Thương  Lang (NC-8). Cảnh thiên nhiên  kì thú hiển hiện, lại ngâm  đọc triết  lí nước  trong   rửa giải mũ, nước đục   rửa chân,  xu thời  xu thế để giữ thân  bình yên tưởng xoa   dịu tâm  tư ai ngờ  càng   dậy  lên tiếng  trào (sóng) Thương Lang. Tinh thần  Khuất Nguyên vì nước  vì vua, can ngăn không  được nên trầm mình xuống  sông Mịch La đã dậy  lên khắp  đầu ngọn  sóng như nhắc nhở, khơi động tâm tư, thúc giục  tinh thần ưu  dân ái quốc, nhập  thế hành   động. Cũng   trong tinh  thần ấy,  đang  hứng  khởi  với cảnh lạ, dù  hòa mình tới mức nhập thân vào  thiên  nhiên thì chính  những lúc  đó  lại  dậy  lên nỗi  niềm quân thân, tấm lòng   trung hiếu, lo cho dân cho nước: Cảnh lạ  đêm thanh hứng bởi đâu. Nguyệt mọc  đầu non kình   dõi tiếng, Khói tan mặt nước thận  không lầu… Ta  ắt lòng mừng Văn Chính (Phạm  Trọng Yêm)  nữa, Vui  xưa chẳng  quản đeo  âu (NC-18). Phạm  Trọng Yêm  có câu: Lo  trước cái lo của thiên hạ, vui  sau  cái vui của thiên hạ (Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ  chi lạc nhi lạc), Nguyễn Trãi  cũng lấy  đó  làm  phương châm hành  động, định hướng cho triết  lí nhập  thế của  mình. Khi  được  vua  Thái Tông giao trọng trách, Nguyễn Trãi có Biểu tạ ơn: Thương thần như con ngựa già  còn ham  giong  ruỗi, Xem thần như cây thông qua năm rét càng dạn tuyết sương. Dù cho thịt nát xương tan, cũng không dám từ nan. Thần xin đem chút sức tàn, gắng gỏi hết lòng phò tá bệ hạ, chăm lo việc chung của trăm họ, để không phụ lòng tin yêu che chở của triều đình. Tuổi ngoài sáu mươi, trải  bao hoạn nạn  mà  tinh thần nhập  thế lập  công, khao khát cống hiến, mong ước đem tài  năng phụng sự nhân sinh  còn mạnh  mẽ  đến như vậy, cao cả  biết bao!

Biết   cửa quyền hiểm hóc, đường lợi quanh  co, hai lần từ quan, lui về  trí     Côn Sơn như  một  tiên nông thanh thoát nhưng rồi khi  được  gọi, Nguyễn Trãi vẫn hăm  hở ra nhận  chức  quan, tất  cả   đều  từ  chí hướng. 21  bài Ngôn chí cũng      21 lời giải bày tâm tư sâu đậm về  hai đường xuất  xử. Triết    xuất   xử  tồn tại và mang giá  trị   sống cao  cả (kỳ  quan), tùy lúc thay thế nhau hiện  hữu sinh  động trong  con người vừa mang tâm hồn xuất thế phóng   dật  thanh  thoát  vừa thấm đẫm tinh thần hăng hái nhập thế, trăn trở với bao  âu  lo của  xã  hội nhân quần.

18-8-26

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét