BÚT NGUYÊN TỬ
ảnh internet
XUẤT (hành, nhập thế hoạt động) và XỬ (tàng, xuất thế, ẩn dật) là hai khái niệm phổ biến trở thành triết lí nhân sinh của tầng lớp nho sĩ. Nguyễn Công Trứ từng viết Hành tàng bất nhị kì quan- Xưa nay xuất xử thường hai lối. Sĩ gặp thời vua sáng tôi hiền, được trọng dụng, phát huy được tài năng thì làm quan không thời lui về ẩn dật để di dưỡng tinh thần, giữ gìn khí tiết. Có thể nói như Lâm Ngữ Đường là luôn có sẵn một ông Khổng và một ông Lão trong con người nho sĩ.
Ngôn chí (NC)- nói chí, có 21 bài thơ thì tất cả đều hướng vào hai chí hướng chủ đạo, một chiều là nhàn tản phóng dật và chiều ngược lại là đau đáu niềm trung hiếu, mối nợ quân thân. Trong quãng đời làm quan, do từng là cựu quan nhà Hồ, con cháu ngoại của nhà Trần, dẫu có công trạng lớn, đảm trọng trách cao nhưng Nguyễn Trãi thường bị nghi ngờ, chèn ép, thậm chí bị khinh nhờn nên đã từ quan hai lần (1939, 1942), Ngôn chí xuất hiện chủ yếu trong giai đoạn ông từ quan lui về trí sĩ tại Côn Sơn lần thứ nhất (1939-1940).
Tư tưởng nhàn tản của Nguyễn Trãi được rèn cặp theo triết lí xuất xử của nho gia cùng với những chiêm nghiệm và kinh nghiệm trước hoàn cảnh thực tế mà hình thành, phát triển. Vua nghi ngờ, quan kiêu lộng, chung quanh đều là thị phi tranh chấp, thế lực đen tối tìm cách cô lập, chực hại người quân tử thì ẩn dật nhàn tản trở thành phương sách thoái bộ hay nhất để bảo toàn thân danh: Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay đường lợi cực quanh co nên Nẻo có ăn thì có lo, Chi bằng cài cửa ngáy pho pho (NC-19). Giữ mình thanh liêm, Hiểm hóc cửa quyền chăng (chẳng) đụt lặn, không hùa nước đục rửa chân, a tòng làm bậy, muốn thay đổi cục diện nhưng không đủ sức xoay đảo tình thế, trong trường hợp này chỉ còn cách cứng cỏi từ quan: Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng lâm (NC-4). Triết lí ẩn dật là lối thoát tốt nhất: Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dại dột có phong lưu (NC-2) (chữ dại dột này về sau Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn người đến chốn lao xao) để giữ gìn phẩm tiết, giữ gìn tinh thần Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất của kẻ sĩ.
Từ quan, từ bỏ cuộc sống sung túc để về ẩn cư Côn Sơn, bắt gặp và hòa nhập vào môi trường phù hợp, bóng dáng đại quan Nhập nội Hành khiển như một lão tiên nông: Mưa thu rưới ba đường cúc, Gió xuân đưa một luống lan. Ẩn cả lọ chi thành thị nữa, Nào đâu là chẳng đất nhà quan (NC-16) rõ là Trong dại dột có phong lưu (NC-2). Tác giả tếu táo nhắc tích Đông Phương Sóc làm quan thực ra là ở ẩn trong triều đình, ẩn nơi thị thành còn mình cũng ẩn ở đất nhà quan xem đây là ẩn cả (ẩn lớn).
Lui về ẩn dật, Nguyễn Trãi được tự do, không bị lôi kéo vào cuộc cờ tranh chấp: Thân nhàn dầu tới dầu lui, Thua được bằng cờ ai kẻ đôi, Con cháu mựa (chớ) hiềm song viết tiện (nghèo khó), Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi (NC-12). Ông lấy câu chuyện của Lí Xung trong Tam quốc chí trồng một nghìn gốc quýt, bảo con rằng: “Ta có một nghìn cây làm tôi tớ” (Ngô hữu mộc nô thiên đầu), tác giả đã gạt bỏ lợi danh, dựa tự nhiên để sống, thể hiện tinh thần tri túc (biết đủ là đủ), không sợ nghèo khó của nhà nho chân chính.
Tránh bao chuyện thị phi, rời xa nhân tình thế thái ấm lạnh nhạt nồng, tìm cõi sống tách biệt cho riêng mình: Am trúc hiên mai ngày tháng qua, Thị phi nào đến cõi yên hà (NC-3), sống đơn giản không tham cầu vật chất chỉ chú trọng tinh thần: Án sách cây đàn hai bạn cũ, Song mai hiên trúc một lòng thanh (NC-6), sống ẩn dật giữa thiên nhiên, giữ lòng ngay thẳng để di dưỡng tính tình: Thuyền chèo đêm nguyệt sóng biếc, cây đến ngày xuân lá tươi. Phú quý chẳng tham thanh tựa nước, Lòng nào vạy mỗ hây hây (NC-21).
Với nho gia, ẩn dật không phải là trốn chạy, hành (xuất) tàng (ẩn, xử) là hai phương án thay thế nhau trở thành triết lí sống thâm nhập vào nhận thức và hành động. Chính Khổng Tử, khi hỏi học trò về chí nguyện, ai cũng nói đến lễ nghĩa, trị quốc bình thiên hạ chỉ có Tăng Điểm (Tăng Tích) đáp rằng “Cuối xuân mặc áo mới, tắm mát ở sông Nghi, hóng gió ở đàn Vũ Vu, ca hát mà về” (Dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi quy). Nghe xong, Khổng Tử thở dài, rồi tán thành: "Ta cũng thích như Điểm vậy!". Sống hòa hợp với thiên nhiên, thanh thản và tự tại thể hiện cảnh giới tâm hồn thư thái, an nhiên, không vụ lợi trần lụy, khao khát sự thanh thản, tự do và một lối sống thể hiện thiên tính, hòa điệu với đất trời.
Thoát khỏi vòng lợi danh, Nguyễn Trãi tìm được sự an nhiên tự tại, tìm lại được chính mình: Cảnh tựa chùa chiền lòng tựa thầy, Có thân chớ phải lợi danh vây. Đêm thanh hớp nguyệt nâng chén, Ngày vắn xem hoa bẻ cây… Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế, Năng một ông này đẹp thú này (NC-10). Sống buông bỏ tất cả, ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên như bước vào một cảnh giới cao quý của sự giải phóng tinh thần tuyệt đối: Quét trúc bước qua làn suối, Tìm mai về đạp bóng trăng… Một phút thanh nhàn trong thuở ấy, Thiên kim ước đổi được hay chăng (NC-15).
Cuộc sống ẩn
tàng dẫu lôi cuốn Hài hoa còn bợn dặm thanh
vân nhưng tinh thần nhập thế hành
động khó thể quên: Nợ
quân thân chưa báo được (NC-11). Trung hiếu là phẩm chất định hướng, trở thành đạo lí sâu sắc làm mực thước xã hội và dẫn
dắt cuộc sống: Bui có một niềm chăng (chẳng) nỡ trễ, Đạo làm con liễn (lẫn) đạo làm tôi (NC-1). Phẩm chất trung hiếu được hun đúc, được nhận thức tới mức nhập tâm: Một
thân lẩn
quất đường khao mục, hai chữ mơ
màng việc quốc gia (NC-7), đau đáu
bên lòng, còn chưa báo đáp được
thì khác gì mang lỗi lớn: Quân
thân chưa báo lòng canh cánh, Tình phụ cơm trời
áo cha (NC-7). Đây chính là động cơ thôi thúc nhập thế hành động.
Dù khi bị bạc đãi, dù
lúc chua xót vì bị
chèn ép thị phi, tấm lòng Nguyễn Trãi
vẫn luôn ghi khắc sâu đậm hai chữ quân thân, xem như món nợ: Bát cơm
xoa nhờ ơn xã tắc, Gian lều cỏ
đội đức Đường Ngu. Tơ hào chẳng
có đền ơn chúa, Dạy láng giềng mấy sĩ
nhu (NC-14). Ngay cả lúc vui thú
ẩn dật nhàn tản, tấm lòng
trung quân ái quốc
vẫn khôn nguôi: Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi, Hàu chất so le khóm cuối làng. Ngâm sách thằng chài trong thuở
ấy, Tiếng trào dậy khắp Thương
Lang (NC-8). Cảnh thiên nhiên
kì thú hiển hiện, lại ngâm đọc triết
lí nước trong rửa giải mũ, nước đục rửa chân,
xu thời xu thế để giữ thân bình yên tưởng xoa dịu tâm
tư ai ngờ càng dậy
lên tiếng trào (sóng) Thương Lang.
Tinh thần Khuất Nguyên vì nước vì vua, can ngăn không được nên trầm mình xuống sông Mịch La đã dậy
lên khắp đầu ngọn sóng như nhắc nhở, khơi động tâm tư, thúc giục tinh thần ưu
dân ái quốc, nhập thế hành động. Cũng
trong tinh thần ấy, dù đang hứng khởi với
cảnh lạ, dù hòa mình tới mức nhập thân vào thiên
nhiên thì chính những lúc đó lại dậy
lên nỗi niềm quân thân, tấm
lòng trung hiếu, lo cho dân cho nước: Cảnh lạ
đêm thanh hứng bởi đâu. Nguyệt mọc
đầu non kình dõi tiếng, Khói tan
mặt nước thận không lầu… Ta ắt lòng mừng Văn Chính (Phạm Trọng Yêm)
nữa, Vui xưa chẳng quản đeo
âu (NC-18). Phạm Trọng
Yêm có câu: Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau
cái vui của thiên hạ (Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc), Nguyễn Trãi cũng lấy
đó làm phương châm hành động, định hướng cho triết lí nhập
thế của mình. Khi được
vua Thái Tông giao trọng trách,
Nguyễn Trãi có Biểu tạ ơn: Thương thần như con ngựa già còn ham
giong ruỗi, Xem thần như cây thông
qua năm rét càng dạn tuyết sương. Dù cho thịt nát xương tan, cũng không dám từ
nan. Thần xin đem chút sức tàn, gắng gỏi hết lòng phò tá bệ hạ, chăm lo việc
chung của trăm họ, để không phụ lòng tin yêu che chở của triều đình. Tuổi ngoài sáu mươi, trải bao hoạn nạn mà tinh thần nhập thế lập công, khao khát cống hiến, mong ước đem tài năng phụng sự nhân sinh còn mạnh mẽ đến như vậy, cao cả biết bao!
Biết rõ cửa quyền hiểm hóc, đường lợi quanh co, hai lần từ quan, lui về trí sĩ ở Côn Sơn như một tiên nông thanh thoát nhưng rồi khi được gọi, Nguyễn Trãi vẫn hăm hở ra nhận chức quan, tất cả đều từ chí hướng. 21 bài Ngôn chí cũng là 21 lời giải bày tâm tư sâu đậm về hai đường xuất xử. Triết lí xuất xử tồn tại và mang giá trị sống cao cả (kỳ quan), tùy lúc thay thế nhau hiện hữu sinh động trong con người vừa mang tâm hồn xuất thế phóng dật thanh thoát vừa thấm đẫm tinh thần hăng hái nhập thế, trăn trở với bao âu lo của xã hội nhân quần.
18-8-26


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét