MỤC LỤC BLOG

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

CUNG OÁN NGÂM KHÚC (Nguyễn Gia Thiều) - NGỮ NGỮ KINH NHÂN

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

Viết về Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Lý Văn Phức đã dùng cặp câu đối xứng để ca ngợi năng lực văn chương "xuất thần" của ông: "Nhất thị ứng khẩu thành tụng, ngữ ngữ khả nhân; Nhất thị thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân." (Một mặt, khi ông ứng khẩu mở lời thành thơ, thì lời lời chữ chữ đều vừa vặn, đẹp đẽ, đi vào lòng người. Mặt khác, khi ông dành tâm huyết để gọt giũa, nghìn lần nhồi nặn, trăm lần nung luyện thành câu thơ, thì lời lời chữ chữ đều làm cho người nghe phải kinh ngạc, thán phục).

            Với   356  câu song thất  lục bát   viết   về nỗi  oán thán của  người  cung nữ, Cung  oán ngâm khúc  là một thành tựu  văn chương rạng ngời. Với  vốn  học thuật uyên bác, bút  lực  được tôi luyện  tới mức điêu luyện, vận  dụng   nhiều  thủ pháp nghệ thuật, khai thác thế mạnh   của thể  loại thơ, sử  dụng ngôn  từ   đạt hiệu ứng cực tả, Nguyễn Gia Thiều  hiện    diện như  một tác giả lớn trong thời kì phát  triển rực rỡ  của  nền  văn học chữ Nôm.

            1. Trước hết, khúc ngâm  một  kho tàng điển cố với hàng trăm   sự tích  trong  văn hóa và học thuật có tính bác  học của Trung Hoa  được nén vào, đòi  hỏi  phải có vốn  hiểu  biết  hàn  lâm nhất  định để  đọc.

            Ngay  từ  các câu mở  đầu: Trải vách quế  (quế cung, nơi cung nữ ở)  gió vàng (kim phong, gió   mùa thu, thuộc hành kim) hiu hắt, Mảnh  vũ y  (áo bằng lông chim ngũ   sắc, cung nữ  mặc    múa) lạnh ngắt như đồng; Oán chi những khách tiêu phòng (phòng có trát  hồ tiêu cho ấm),  xui phận bạc nằm  trong   hồng (thuyết  hồng nhan bạc phận, tạo  hóa đố  hồng nhan). Điển  cố ngồn ngộn,  trải   dài  trong toàn tác phẩm. Dù   tác  giả  đã  Việt  hóa, sử  dụng nhuần nhuyễn nhưng đòi  hỏi người đọc phải có vốn tri thức tương ứng, phải  đọc nhiều  lần để thâm nhập sâu tác phẩm bằng  không thì   chỉ đạt  mức  cảm nhận chứ  khó đạt  tới mức thưởng ngoạn uyên  áo với những  những  rung  động nghệ thuật sâu   xa.

            Hãy đọc thêm một  đoạn: Ngấn phượng liễn (kiệu, xe  chạm  hình chim  phượng) chòm rêu lô chỗ, Dấu dương xa (xe  dê, vua thường   dùng đi dạo trong  cấm cung) đám cỏ quanh co. Lầu Tần (lầu Tần  quán  Sở, chỉ  cảnh phong lưu) chiều nhạt vẻ thu, Gối loan (gối thêu hình chim loan) tuyết đóng, chăn cù (chăn bằng lông cù, lông chiên) giá đông. Chưa   nói  đến nhiều  tên tuổi  nhân vật   gắn  với điển   tích được tác  giả  đề  cập, nếu  bỏ   qua  thì  sẽ    một  khiếm khuyết khi thưởng ngoạn tác phẩm.

Trong văn chương  cổ, nhiều  tác  giả   sính    dùng  điển cố nhưng chưa   đâu có  mức độ  sử  dụng dày đặc như vậy. Đặc  biệt  phải ghi nhận nhờ tài năng  của tác giả  mà phần  lớn được  Việt hóa, cả một  kho  điển  cố  ẩn   giấu   sau lớp  ngôn từ Việt giúp  cảm nhận, thâm nhập  tác phẩm dễ   dàng hơn: Mày ngài (tàm mi) lẫn mặt rồng (long nhan) lồ lộ, Sắp song song đôi lứa nhân duyên  Trên chín bệ (cửu  trùng) mặt trời gang tấc (Thiên oai bất  vi nhan chỉ   xích- Oai  trời   không  xa nơi trái nơi gang tấc- Tả  truyện), Chữ xuân riêng (Hữu nữ hoài xuân- Cô gái nhớ tình xuân- Kinh Thi) sớm chực trưa chầu. Trêu ngươi chi bấy trăng già (Nguyệt  lão xe duyên)…

Như những bức tranh, những khung  cảnh, điển  cố làm tăng  độ hàm  súc, tăng tính hình  tượng  giúp   người đọc tiếp  cận với  văn hóa cổ  nhất  là văn  hóa cung đình   Trung Hoa. Điển  cố  dần  dà bổ   sung, thấm  đẫm, ăn  sâu,  hóa thân vào ngôn từ Việt, càng   đọc  càng thẩm thấu chữ nghĩa, độ rung  cảm ngôn từ càng sâu sắc  hơn.

2. Cung  oán ngâm khúc  còn  là một  kho  từ ngữ  Hán Việt  trang  trọng, thâm  viễn  hiện diện với tần  số  cao trong tất  cả các câu thơ: Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, Gác thừa lương giấc ngủ thu phong, Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng, Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi. Nhiều  từ  ngữ  được Việt  hóa: Chiều ủ dột giấc mai (giấc  mộng   dưới cây  mai, giấc ngủ  của người đẹp) khuya sớm, Vẻ bâng khuâng hồn bướm (Trang Chu hóa  bướm- giấc điệp) vẩn vơ. Thâm khuê vắng ngắt như tờ… Nhiều  từ  ngữ trở thành  thành  ngữ có tính hàm  súc: Bây giờ đã ra lòng ruồng rẫy, Để thân này nước chảy hoa trôi (Thủy lưu hoa  tạ lưỡng  vô tình- Nước  trôi hoa  rụng thảy  vô tình - Đường thi). Ai bày trò bãi bể nương dâu (Thương hải  biến vi tang  điền). Nghĩ thân phù thế mà đau, Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê. Hẳn túc trái làm sao đây tá? Hay tiền nhân hậu quả xưa kia? Từ  một  câu, một  sự tích, tác  giả  đúc lại, rút vào  một từ, giản  lược ngôn từ,  do diễn đạt gọn làm tăng  độ hàm  súc, nén chặt  tạo   bung  tỏa  mạnh  làm  phát huy tác dụng gợi mở, liên tưởng  phong phú nơi người  đọc.

3. Khúc  ngâm còn là một  kho  từ ngữ thuần Việt mang  tính  gợi hình   gợi cảm cao độ. Tác  giả đi  sâu  khai thác các động từ  nhất    các tính từ, biểu đạt tới mức cực tả: Mùi tục vị lưỡi tân khổ, Đường thế đồ gót rỗ khi khu. Ngôn  từ  tạo  ấn tượng mạnh như  tác động  trực tiếp  vào  giác  quan: Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng tà huy.  Các  từ  ngữ  trơ, rũ  tạo  sự  liên tưởng về   thời  gian lạnh lùng  trôi,  chứng tích tàn tạ, nghiệt  ngã  khốc liệt. Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc, Thú ca lâu dế khóc canh dài, gợi cảnh  hoang   phế thương  đau, hình   dung   sự  đối  lập giữa thịnh     suy. Nguyễn  Gia Thiều   không  ngại  dùng  những từ thuần Việt  sức  bộc  tỏa trần  trụi như  trong lời  ăn tiếng nói  dân   gian: Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang. Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra. Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc; Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo; Tiếng thuý điện cười già ra gắt; Ngọn tâm hoả đốt dàu nét liễu, Giọt hồng băng thấm ráo làn son… Ngay  cả  khi tán  dương  sắc  đẹp  nàng  cung nữ- một tuyệt thế  giai nhân, thay vì  giữ nguyên  điển cố trầm ngư  lạc nhạn,  tác   giả   cũng  không ngại  dùng toàn những  từ hầu như  thuần Việt   đầy  hình tượng, sáng tạo nên hai câu tuyệt diệu: Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn, Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa! Chính  chỗ dụng công   chọn  chữ  lọc từ này làm nên nét   độc đáo, tạo ấn tượng nổi bật của tác phẩm.

4. Nguyễn  Gia Thiều  càng chú ý khai  thác  độ   biểu  hiện  của  ngôn  từ   bằng  cách tách  chữ  để tạo tiểu  đối, tăng độ   diễn   cảm. Thay  vì dùng từ ghép thông thường thì  tách thành từ  đơn   rồi liên  kết  xen  kẽ tạo  thành  cách  diễn  đạt  mới có tính   sóng  đôi. Thay  vì viết ố vàng kim  cổ, phong vũ ủ   ê  thì viết:  Hình mộc thạch vàng kim ố cổ, Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong. Khi ấp mận ôm đào (ôm  ấp  mận  đào) gác nguyệt, Lúc cười sương cợt tuyết (cười cợt  sương tuyết) đền phong. Một mình đứng tủi, ngồi sầu (đứng ngồi  tủi  sầu),  Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa (than rầu nguyệt hoa)! Những hương sầu phấn tủi (hương phấn tủi   sầu) bao xong! Việc xáo  trộn  chữ  nghĩa tạo   được  cách  diễn  đạt  mới, tạo  thêm nhịp  điệu, nhạc  tính, hình  thành được những khái  quát  có tính thành ngữ, tăng mức   diễn  đạt  lên  cao  độ.

5. Tác phẩm   viết  về   người cung nữ  trong  cung  cấm, hoàn cảnh  ấy,  nhân vật  ấy  đương nhiên ngôn từ  phải  quí phái  sang trọng,  việc   sử   dụng nhiều  điển cố, từ ngữ Hán Việt là  đương nhiên nhưng nét  độc  đáo ở  đây   là việc  kết  hợp  song hành   và nhuần nhuyễn  giữa từ ngữ Hán Việt  và thuần Việt. Điều tưởng nghịch  lí lại trở thành   độc  đáo, tạo  nên  biểu  cảm đặc   biệt, trang   trọng  nhưng  không kiểu cách mà  sống  động, khuôn  phép  nhưng  không nhạt  nhẽo xơ  cứng mà linh hoạt, ấn tượng: Trắng răng đến thuở bạc đầu, Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần? Bệnh trần đòi đoạn tâm  can, Lửa  cơ đốt  ruột  dao hàn  cắt da. Ngọn tâm hoả đốt dàu nét liễu, Giọt hồng băng thấm ráo làn son. Trong từng   câu, các từ ngữ  Hán Việt (một  phần được Việt  hóa) thường  giữ  vị  trí chủ  từ còn các  từ thuần Việt  thường làm  động từ, tính  từ. Sự  tương ứng ngôn  từ giúp   vào  việc  biểu  đạt  đạt  được nhiều   dạng  thức  từ  miêu tả cảnh  tình đến chiêm nghiệm  triết học.

Sự   kết  hợp  ngôn từ tạo  được những   đoạn  miêu tả   sinh   động, gợi hình,  gợi  cảm, gợi  tình thật  hiếm trong văn học cổ  điển: Cái đêm hôm ấy đêm gì, Bóng dương lồng bóng đồ my trập trùng? Chồi thược dược mơ mòng thuỵ vũ, Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu. Cành xuân hoa chúm chím chào, Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai. Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió, Áo vũ kia lấp ló trong trăng… Mượn  mây vẽ  trăng, tả mà  không, tác giả dùng  cách    von gợi cho người  đọc liên tưởng một cách thanh nhã    sống  động.

6. Cung  oán  ngâm khúc đã  chuyển tải nhiều  quan niệm  triết học. Nào  thuyết tài  mệnh  tương   đố (tạo  hóa  đố hồng nhan): Oán chi những khách tiêu phòng, Mà xui phận bạc nằm trong má đào!  Nào thuyết  định  mệnh, thế   giới u minh: Cái quay búng sẵn lên trời, Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm. Quan niệm đời là mộng   ảo: Kìa thế cục như in giấc mộng, Máy huyền vi mở đóng khôn lường! Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy, Kiếp phù sinh trông thấy mà đau! Đời  là bể  khổ: Thảo nào khi mới chôn nhau, Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra!  Khóc vì nỗi thiết tha sự thế, Ai bày trò bãi bể nương dâu? Trắng răng đến thuở bạc đầu, Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần. Triết lí bi đát, tuyệt  vọng: Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.

            Qua  khúc ngâm, tác  giả   đã dành một  liều  lượng lớn (tới mức  quá  lạm) câu chữ  để  chiêm nghiệm  về   triết  lí,    điều, những   suy tư này  không  trừu tượng với những khái niệm lạnh  lùng khô  cứng mà  sinh   động thông  qua  ngôn ngữ hình tượng. Dùng những hình   ảnh     von, gợi hình, gợi  cảm để  chuyển tải những  quan niệm về  thế  giới, về nhân sinh, tác giả đã tạo được những  tác động   sâu sắc vào tâm khảm người đọc. Không  chiêm nghiệm  sâu  xa, không nhập  tâm thành máu thịt, không  có năng lực  diễn đạt tài  hoa  thì  khó  có thể    được những   dòng trăn trở sâu sắc về  kiếp người  như vậy.

            7. Một  đặc  điểm nổi  bật của Cung Oán ngâm  khúc    sử   dụng   phép  đối xứng nghiêm ngặt nhưng nhuần nhuyễn. Do yêu  cầu chặt  chẽ về  niêm luật, liều lượng   câu chữ, từ  loại tương ứng nên  phép  đối thường gây  trở ngại, gây sự khiên cưỡng nơi sáng tác của những người  non tay. Chỉ những bậc thầy  ngôn ngữ cao tay thì đối trở thành  tự nhiên, nhuần  nhuyễn, dễ dàng tung hứng, tạo hiệu năng   diễn đạt  cao.

              thể  nói bất  cứ  khổ thơ 4  câu song thất  lục bát (7-7-6-8) nào cũng  diễn ra  một hoặc hai   trường hợp  đối.

Dẫn một  đoạn: (2 khổ  3 lần đối)

Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ // Gác thừa lương thức ngủ thu phong,

Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng, Gương loan bẻ nửa // dải đồng xẻ đôi.

Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm, Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.

Thâm khuê vắng ngắt như tờ, Cửa châu gió lọt// rèm ngà sương gieo.

Một  đoạn khác: (2  khổ  5  lần đối)

Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng// Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.

Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tịch mịch// bóng đèn âm u.

Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ// Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu.

Một mình đứng tủi// ngồi sầu, Đã than với nguyệt// lại rầu với hoa!

            Đối chặt nhưng nhuyễn, đối từng  câu  hay  đối từng   đoạn  trong  câu trở thành phổ   biến, tự nhiên. Do tính  chất   đối, nhờ tác động hô  ứng, vế   trước  đưa đẩy, làm đà, lập  khuôn cho vế  sau, vế  sau hỗ  trợ  vế  trước, tạo  sức nhấn nên  công  suất  biểu đạt  của ngôn từ mạnh  đồng thời  tạo  nhịp làm cho câu thơ, vế thơ cân   xứng, chững chạc, đường bệ. Có thể  nói Nguyễn Gia Thiều  là bậc thầy cao tay sử  dụng  phép  đối.

            8. Lời oán thán  của  người cung nữ là nội  dung chủ yếu,  do vậy,   việc thể  hiện những trạng thái, những   diễn  biến tâm lí là  yếu tố chủ  đạo  để  phát  triển  tác phẩm. Người  cung nữ, một  trang  giai nhân tuyệt thế, một  bậc tài  danh  do   trời  run rủi, tơ tình vương gót cung phi,  được  sủng   ái  nhưng  Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt, Nguồn ân kia chẳng tát mà vơi! Rồi  cứ thế, mong  mỏi  chờ  đợi, thất  vọng, đau  khổ, tuyệt  vọng. Nhiều  trạng huống tâm lí  xoay  quanh nỗi buồn tủi oán thán  triền  miên. 

            Khi  mòn mõi mong chờ:  Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng, Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.

              Lo nhan  sắc   tàn tạ: Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng, Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn!

            Tủi   buồn  vô tận: Một mình đứng tủi, ngồi sầu, Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa!

            Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ, Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn. Muốn đem ca tiếu giải phiền, Cười nên tiếng khóc, hát nên giọng sầu.

            Lòng ngán ngẩm buồn tênh mọi nỗi, Khúc sầu tràng bối rối dường tơ.

            Tuyệt  vọng    đau  khổ: Đêm năm canh lần nương vách quế, Cái buồn này ai để giết nhau, Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!

            Có khi  phẫn nộ:Chống tay ngồi nghĩ sự đời, Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm! Đang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!

            Các  trạng thái tâm lí tủi  hờn, ủ  ê, chua  xót, ngán ngẩm, bế tắc, tuyệt vọng hòa  quyện  lẫn nhau, thể  hiện  qua thời gian, qua khung  cảnh, qua tâm tư, động tác đều  xoáy  sâu vào tâm  can. Khúc ngâm là chuỗi  dài nỗi niềm độc thoại nội tâm khôn nguôi, là tiếng  lòng oán thán của  người cung nữ cất  lên thành  những  chuỗi ngôn từ  bi thương thống thiết, thành   những  cung bậc của  nỗi oán thán buồn  đau bất tận.

            9. Cảnh ngụ tình, cảnh   sắc  luôn mang  đậm tâm trạng, tình   cảm nhân vật  trở thành   quy  luật   trong   sáng tác thơ văn  trung  đại.  Nguyễn Gia Thiều   không ra  ngoài thông lệ thậm  chí  còn ý thức    điều  đó: Tình  buồn cảnh  lại   duyên, Tình   trong cảnh  ấy, cảnh bên tình này.

            Tâm  trạng  buồn đau   của người cung nữ như  phủ  lên cảnh vật.

Điện các ủ   ê: Mặt  buồn  trông  lên cửa nghiêm lâu,  Phòng tiêu  lạnh  ngắt như đồng, Thâm khuê vắng ngắt như tờ.

Hoa nguyệt là  biểu  trưng vẻ đẹp  cũng  tàn tạ: Buồn  vì nỗi nguyệt tà  ai  trọng, Buồn    điều  hoa  rụng   ai nhìn. Son phấn làm đẹp cũng trở  nên hương  sầu  phấn tủi.

Tình  cảnh trớ trêu: Muốn  đem ca tiếu giải phiền, Cười nên tiếng khóc hát nên giọng   sầu.

Thời  gian như gậm nhắm nỗi cô  đơn, xâu xé  tâm can: Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng, Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền. Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tịch mịch, bóng đèn âm u.

            Và nhất  là hai câu: Hoàng  hôn thôi lại  hôn hoàng, Nguyệt  hoa thôi lại  thêm  buồn nguyệt hoa. Chỉ một lần đảo, một  lần lặp mà miêu tả  được nỗi  buồn phủ  lên cảnh vật, trải  dài  theo  thời  gian, liên tục theo chu  kì bất tận. Chỉ hai  câu tuyệt  bút này thôi cũng  đủ  làm cho người đọc kinh ngạc, thán phục.

            Nguyễn Gia Thiều  đã từng hạ bút: Buồn này   mới gọi  buồn sao, Một  đêm nhớ cảnh   biết bao  nhiêu tình. Cảnh tùy vào tâm trạng, sau này, Nguyễn Du   cũng đồng điệu: Cảnh nào  cảnh chẳng  đeo sầu, Người  buồn cảnh  có vui đâu bao giờ.

            Với  356   câu thơ  ghi nỗi oán thán của người  cung nữ,  khúc ngâm là một tác  phẩm nổi  bật về  sự  dụng  công, chọn  âm, lọc chữ, khai thác tối đa hiệu ứng thể  loại, ngôn từ, âm  hưởng  và hình   ảnh, sử  dụng một  cách nhuần nhuyễn, sáng tạo nhiều biện  pháp nghệ thuật làm tăng tối đa độ biểu  cảm. Cung oán ngâm  khúc  thực  đã được  đan   dệt  bằng lời lời  châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.

4-8-26

                                                                                               

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét