ảnh internet
Viết về Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Lý Văn Phức đã dùng cặp câu đối xứng để ca ngợi năng lực văn chương "xuất thần" của ông: "Nhất thị ứng khẩu thành tụng, ngữ ngữ khả nhân; Nhất thị thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân." (Một mặt, khi ông ứng khẩu mở lời thành thơ, thì lời lời chữ chữ đều vừa vặn, đẹp đẽ, đi vào lòng người. Mặt khác, khi ông dành tâm huyết để gọt giũa, nghìn lần nhồi nặn, trăm lần nung luyện thành câu thơ, thì lời lời chữ chữ đều làm cho người nghe phải kinh ngạc, thán phục).
Với 356 câu song thất lục bát viết về nỗi oán thán của người cung nữ, Cung oán ngâm khúc là một thành tựu văn chương rạng ngời. Với vốn học thuật uyên bác, bút lực được tôi luyện tới mức điêu luyện, vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật, khai thác thế mạnh của thể loại thơ, sử dụng ngôn từ đạt hiệu ứng cực tả, Nguyễn Gia Thiều hiện diện như một tác giả lớn trong thời kì phát triển rực rỡ của nền văn học chữ Nôm.
1. Trước hết, khúc ngâm là một kho tàng điển cố với hàng trăm sự tích trong văn hóa và học thuật có tính bác học của Trung Hoa được nén vào, đòi hỏi phải có vốn hiểu biết hàn lâm nhất định để đọc.
Ngay từ các câu mở đầu: Trải vách quế (quế cung, nơi cung nữ ở) gió vàng (kim phong, gió mùa thu, thuộc hành kim) hiu hắt, Mảnh vũ y (áo bằng lông chim ngũ sắc, cung nữ mặc và múa) lạnh ngắt như đồng; Oán chi những khách tiêu phòng (phòng có trát hồ tiêu cho ấm), Mà xui phận bạc nằm trong má hồng (thuyết hồng nhan bạc phận, tạo hóa đố hồng nhan). Điển cố ngồn ngộn, trải dài trong toàn tác phẩm. Dù tác giả đã Việt hóa, sử dụng nhuần nhuyễn nhưng đòi hỏi người đọc phải có vốn tri thức tương ứng, phải đọc nhiều lần để thâm nhập sâu tác phẩm bằng không thì chỉ đạt mức cảm nhận chứ khó đạt tới mức thưởng ngoạn uyên áo với những những rung động nghệ thuật sâu xa.
Hãy đọc thêm một đoạn: Ngấn phượng liễn (kiệu, xe chạm hình chim phượng) chòm rêu lô chỗ, Dấu dương xa (xe dê, vua thường dùng đi dạo trong cấm cung) đám cỏ quanh co. Lầu Tần (lầu Tần quán Sở, chỉ cảnh phong lưu) chiều nhạt vẻ thu, Gối loan (gối thêu hình chim loan) tuyết đóng, chăn cù (chăn bằng lông cù, lông chiên) giá đông. Chưa nói đến nhiều tên tuổi nhân vật gắn với điển tích được tác giả đề cập, nếu bỏ qua thì sẽ là một khiếm khuyết khi thưởng ngoạn tác phẩm.
Trong văn chương cổ, nhiều tác giả sính dùng điển cố nhưng chưa đâu có mức độ sử dụng dày đặc như vậy. Đặc biệt phải ghi nhận nhờ tài năng của tác giả mà phần lớn được Việt hóa, cả một kho điển cố ẩn giấu sau lớp ngôn từ Việt giúp cảm nhận, thâm nhập tác phẩm dễ dàng hơn: Mày ngài (tàm mi) lẫn mặt rồng (long nhan) lồ lộ, Sắp song song đôi lứa nhân duyên… Trên chín bệ (cửu trùng) mặt trời gang tấc (Thiên oai bất vi nhan chỉ xích- Oai trời không xa nơi trái nơi gang tấc- Tả truyện), Chữ xuân riêng (Hữu nữ hoài xuân- Cô gái nhớ tình xuân- Kinh Thi) sớm chực trưa chầu. Trêu ngươi chi bấy trăng già (Nguyệt lão xe duyên)…
Như những bức tranh, những khung cảnh, điển cố làm tăng độ hàm súc, tăng tính hình tượng giúp người đọc tiếp cận với văn hóa cổ nhất là văn hóa cung đình Trung Hoa. Điển cố dần dà bổ sung, thấm đẫm, ăn sâu, hóa thân vào ngôn từ Việt, càng đọc càng thẩm thấu chữ nghĩa, độ rung cảm ngôn từ càng sâu sắc hơn.
2. Cung oán ngâm khúc còn là một kho từ ngữ Hán Việt trang trọng, thâm viễn hiện diện với tần số cao trong tất cả các câu thơ: Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, Gác thừa lương giấc ngủ thu phong, Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng, Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi. Nhiều từ ngữ được Việt hóa: Chiều ủ dột giấc mai (giấc mộng dưới cây mai, giấc ngủ của người đẹp) khuya sớm, Vẻ bâng khuâng hồn bướm (Trang Chu hóa bướm- giấc điệp) vẩn vơ. Thâm khuê vắng ngắt như tờ… Nhiều từ ngữ trở thành thành ngữ có tính hàm súc: Bây giờ đã ra lòng ruồng rẫy, Để thân này nước chảy hoa trôi (Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình- Nước trôi hoa rụng thảy vô tình - Đường thi). Ai bày trò bãi bể nương dâu (Thương hải biến vi tang điền). Nghĩ thân phù thế mà đau, Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê. Hẳn túc trái làm sao đây tá? Hay tiền nhân hậu quả xưa kia? Từ một câu, một sự tích, tác giả đúc lại, rút vào một từ, giản lược ngôn từ, do diễn đạt gọn làm tăng độ hàm súc, nén chặt tạo bung tỏa mạnh làm phát huy tác dụng gợi mở, liên tưởng phong phú nơi người đọc.
3. Khúc ngâm còn là một kho từ ngữ thuần Việt mang tính gợi hình gợi cảm cao độ. Tác giả đi sâu khai thác các động từ nhất là các tính từ, biểu đạt tới mức cực tả: Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ, Đường thế đồ gót rỗ khi khu. Ngôn từ tạo ấn tượng mạnh như tác động trực tiếp vào giác quan: Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng rũ tà huy. Các từ ngữ trơ, rũ tạo sự liên tưởng về thời gian lạnh lùng trôi, chứng tích tàn tạ, nghiệt ngã khốc liệt. Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc, Thú ca lâu dế khóc canh dài, gợi cảnh hoang phế thương đau, hình dung sự đối lập giữa thịnh và suy. Nguyễn Gia Thiều không ngại dùng những từ thuần Việt có sức bộc tỏa trần trụi như trong lời ăn tiếng nói dân gian: Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang. Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra. Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc; Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo; Tiếng thuý điện cười già ra gắt; Ngọn tâm hoả đốt dàu nét liễu, Giọt hồng băng thấm ráo làn son… Ngay cả khi tán dương sắc đẹp nàng cung nữ- một tuyệt thế giai nhân, thay vì giữ nguyên điển cố trầm ngư lạc nhạn, tác giả cũng không ngại dùng toàn những từ hầu như thuần Việt đầy hình tượng, sáng tạo nên hai câu tuyệt diệu: Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn, Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa! Chính chỗ dụng công chọn chữ lọc từ này làm nên nét độc đáo, tạo ấn tượng nổi bật của tác phẩm.
4. Nguyễn Gia Thiều càng chú ý khai thác độ biểu hiện của ngôn từ bằng cách tách chữ để tạo tiểu đối, tăng độ diễn cảm. Thay vì dùng từ ghép thông thường thì tách thành từ đơn rồi liên kết xen kẽ tạo thành cách diễn đạt mới có tính sóng đôi. Thay vì viết ố vàng kim cổ, phong vũ ủ ê thì viết: Hình mộc thạch vàng kim ố cổ, Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong. Khi ấp mận ôm đào (ôm ấp mận đào) gác nguyệt, Lúc cười sương cợt tuyết (cười cợt sương tuyết) đền phong. Một mình đứng tủi, ngồi sầu (đứng ngồi tủi sầu), Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa (than rầu nguyệt hoa)! Những hương sầu phấn tủi (hương phấn tủi sầu) bao xong! Việc xáo trộn chữ nghĩa tạo được cách diễn đạt mới, tạo thêm nhịp điệu, nhạc tính, hình thành được những khái quát có tính thành ngữ, tăng mức diễn đạt lên cao độ.
5. Tác phẩm viết về người cung nữ trong cung cấm, hoàn cảnh ấy, nhân vật ấy đương nhiên ngôn từ phải quí phái sang trọng, việc sử dụng nhiều điển cố, từ ngữ Hán Việt là đương nhiên nhưng nét độc đáo ở đây là việc kết hợp song hành và nhuần nhuyễn giữa từ ngữ Hán Việt và thuần Việt. Điều tưởng nghịch lí lại trở thành độc đáo, tạo nên biểu cảm đặc biệt, trang trọng nhưng không kiểu cách mà sống động, khuôn phép nhưng không nhạt nhẽo xơ cứng mà linh hoạt, ấn tượng: Trắng răng đến thuở bạc đầu, Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần? Bệnh trần đòi đoạn tâm can, Lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da. Ngọn tâm hoả đốt dàu nét liễu, Giọt hồng băng thấm ráo làn son. Trong từng câu, các từ ngữ Hán Việt (một phần được Việt hóa) thường giữ vị trí chủ từ còn các từ thuần Việt thường làm động từ, tính từ. Sự tương ứng ngôn từ giúp vào việc biểu đạt đạt được nhiều dạng thức từ miêu tả cảnh tình đến chiêm nghiệm triết học.
Sự kết hợp ngôn từ tạo được những đoạn miêu tả sinh động, gợi hình, gợi cảm, gợi tình thật hiếm trong văn học cổ điển: Cái đêm hôm ấy đêm gì, Bóng dương lồng bóng đồ my trập trùng? Chồi thược dược mơ mòng thuỵ vũ, Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu. Cành xuân hoa chúm chím chào, Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai. Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió, Áo vũ kia lấp ló trong trăng… Mượn mây vẽ trăng, tả mà không, tác giả dùng cách ví von gợi cho người đọc liên tưởng một cách thanh nhã và sống động.
6. Cung oán ngâm khúc đã chuyển tải nhiều quan niệm triết học. Nào thuyết tài mệnh tương đố (tạo hóa đố hồng nhan): Oán chi những khách tiêu phòng, Mà xui phận bạc nằm trong má đào! Nào thuyết định mệnh, thế giới u minh: Cái quay búng sẵn lên trời, Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm. Quan niệm đời là mộng ảo: Kìa thế cục như in giấc mộng, Máy huyền vi mở đóng khôn lường! Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy, Kiếp phù sinh trông thấy mà đau! Đời là bể khổ: Thảo nào khi mới chôn nhau, Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra! Khóc vì nỗi thiết tha sự thế, Ai bày trò bãi bể nương dâu? Trắng răng đến thuở bạc đầu, Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần. Triết lí bi đát, tuyệt vọng: Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.
Qua khúc ngâm, tác giả đã dành một liều lượng lớn (tới mức quá lạm) câu chữ để chiêm nghiệm về triết lí, có điều, những suy tư này không trừu tượng với những khái niệm lạnh lùng khô cứng mà sinh động thông qua ngôn ngữ hình tượng. Dùng những hình ảnh ví von, gợi hình, gợi cảm để chuyển tải những quan niệm về thế giới, về nhân sinh, tác giả đã tạo được những tác động sâu sắc vào tâm khảm người đọc. Không chiêm nghiệm sâu xa, không nhập tâm thành máu thịt, không có năng lực diễn đạt tài hoa thì khó có thể có được những dòng trăn trở sâu sắc về kiếp người như vậy.
7.
Một đặc
điểm nổi bật của Cung Oán
ngâm khúc là sử dụng
phép đối xứng nghiêm ngặt nhưng
nhuần nhuyễn. Do yêu cầu chặt chẽ về
niêm luật, liều lượng câu chữ, từ
loại tương ứng nên phép đối thường gây trở ngại, gây sự khiên cưỡng nơi sáng tác của
những người non tay. Chỉ những bậc thầy ngôn ngữ cao tay thì đối trở thành tự nhiên, nhuần nhuyễn, dễ
dàng tung hứng, tạo hiệu năng diễn đạt cao.
Có thể nói bất cứ khổ thơ 4 câu song thất lục bát (7-7-6-8) nào cũng diễn ra một hoặc hai trường hợp đối.
Dẫn một đoạn: (2 khổ 3 lần đối)
Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ // Gác thừa lương thức ngủ thu phong,
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng, Gương loan bẻ nửa // dải đồng xẻ đôi.
Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm, Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.
Thâm khuê vắng ngắt như tờ, Cửa châu gió lọt// rèm ngà sương gieo.
Một đoạn khác: (2 khổ 5 lần đối)
Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng// Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.
Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tịch mịch// bóng đèn âm u.
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ// Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu.
Một mình đứng tủi// ngồi sầu, Đã than với nguyệt// lại rầu với hoa!
Đối chặt nhưng nhuyễn, đối từng câu hay đối từng đoạn trong câu trở thành phổ biến, tự nhiên. Do tính chất đối, nhờ tác động hô ứng, vế trước đưa đẩy, làm đà, lập khuôn cho vế sau, vế sau hỗ trợ vế trước, tạo sức nhấn nên công suất biểu đạt của ngôn từ mạnh đồng thời tạo nhịp làm cho câu thơ, vế thơ cân xứng, chững chạc, đường bệ. Có thể nói Nguyễn Gia Thiều là bậc thầy cao tay sử dụng phép đối.
8. Lời oán thán của người cung nữ là nội dung chủ yếu, do vậy, việc thể hiện những trạng thái, những diễn biến tâm lí là yếu tố chủ đạo để phát triển tác phẩm. Người cung nữ, một trang giai nhân tuyệt thế, một bậc tài danh do cơ trời run rủi, tơ tình vương gót cung phi, được sủng ái nhưng Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt, Nguồn ân kia chẳng tát mà vơi! Rồi cứ thế, mong mỏi chờ đợi, thất vọng, đau khổ, tuyệt vọng. Nhiều trạng huống tâm lí xoay quanh nỗi buồn tủi oán thán triền miên.
Khi mòn mõi mong chờ: Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng, Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.
Lo nhan sắc tàn tạ: Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng, Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn!
Tủi buồn vô tận: Một mình đứng tủi, ngồi sầu, Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa!
Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ, Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn. Muốn đem ca tiếu giải phiền, Cười nên tiếng khóc, hát nên giọng sầu.
Lòng ngán ngẩm buồn tênh mọi nỗi, Khúc sầu tràng bối rối dường tơ.
Tuyệt vọng vì đau khổ: Đêm năm canh lần nương vách quế, Cái buồn này ai để giết nhau, Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!
Có khi phẫn nộ:Chống tay ngồi nghĩ sự đời, Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm! Đang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!
Các trạng thái tâm lí tủi hờn, ủ ê, chua xót, ngán ngẩm, bế tắc, tuyệt vọng hòa quyện lẫn nhau, thể hiện qua thời gian, qua khung cảnh, qua tâm tư, động tác đều xoáy sâu vào tâm can. Khúc ngâm là chuỗi dài nỗi niềm độc thoại nội tâm khôn nguôi, là tiếng lòng oán thán của người cung nữ cất lên thành những chuỗi ngôn từ bi thương thống thiết, thành những cung bậc của nỗi oán thán buồn đau bất tận.
9. Cảnh ngụ tình, cảnh sắc luôn mang đậm tâm trạng, tình cảm nhân vật trở thành quy luật trong sáng tác thơ văn trung đại. Nguyễn Gia Thiều không ra ngoài thông lệ thậm chí còn ý thức rõ điều đó: Tình buồn cảnh lại vô duyên, Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình này.
Tâm trạng buồn đau của người cung nữ như phủ lên cảnh vật.
Điện các ủ ê: Mặt buồn trông lên cửa nghiêm lâu, Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng, Thâm khuê vắng ngắt như tờ.
Hoa nguyệt là biểu trưng vẻ đẹp cũng tàn tạ: Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng, Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn. Son phấn làm đẹp cũng trở nên hương sầu phấn tủi.
Tình cảnh trớ trêu: Muốn đem ca tiếu giải phiền, Cười nên tiếng khóc hát nên giọng sầu.
Thời gian như gậm nhắm nỗi cô đơn, xâu xé tâm can: Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng, Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền. Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tịch mịch, bóng đèn âm u.
Và nhất là hai câu: Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng, Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa. Chỉ một lần đảo, một lần lặp mà miêu tả được nỗi buồn phủ lên cảnh vật, trải dài theo thời gian, liên tục theo chu kì bất tận. Chỉ hai câu tuyệt bút này thôi cũng đủ làm cho người đọc kinh ngạc, thán phục.
Nguyễn Gia Thiều đã từng hạ bút: Buồn này mới gọi buồn sao, Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình. Cảnh tùy vào tâm trạng, sau này, Nguyễn Du cũng đồng điệu: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Với 356
câu thơ ghi nỗi oán thán của người cung nữ,
khúc ngâm là một tác phẩm nổi bật về
sự dụng công, chọn
âm, lọc chữ, khai thác tối đa hiệu ứng thể loại, ngôn từ, âm hưởng
và hình ảnh, sử dụng một
cách nhuần nhuyễn, sáng tạo nhiều biện
pháp nghệ thuật làm tăng tối đa độ
biểu cảm. Cung oán ngâm khúc thực
đã được đan dệt bằng
lời lời
châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.
4-8-26



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét