BÚT NGUYÊN TỬ
ảnh internet
Chinh phụ ngâm khúc, nỗi niềm của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến, trong đó, những diễn biến tâm lí nào nhớ thương, thao thức, lo âu, cô quạnh, buồn tủi, thất vọng… như những cung bậc của một tâm trạng triền miên u sầu.
Nguyên bản chữ Hán của Đặng Trần Côn (theo thể trường đoản cú), bản dịch (theo thể song thất lục bát) được truyền tụng xưa nay của Đoàn Thị Điểm (Phan Huy Ích ?) là bản sát nhưng thoát, hay nhất, nhiều chỗ còn vượt xa nguyên bản.
Trăng là nguồn cảm hứng, là sự hòa hợp, gắn bó giữa cảnh và tình cũng là phương tiện biểu hiện phổ biến trong sáng tác văn chương cổ điển. Là cảnh ngụ tình, trong Chinh phụ ngâm, trăng trở thành biểu tượng tình cảm, soi chiếu đến tận sâu thẳm, khơi động, nhói đau bao trạng huống tâm tư của người chinh phụ.
Trăng hiện diện ngay trong đoạn mở đầu khúc ngâm: Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt (Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt). Tâm động thế giới động, tình chi phối cảnh, lung lay (hai chữ sống động tài tình do người dịch đưa vào- nguyên bản chỉ có Trường Thành nguyệt) biểu cảm tâm tình xao động của người chinh phụ lay động bóng trăng. Tâm trạng hóa cảnh vật, cho cảnh nhuốm sắc màu, mang dấu ấn tình, ngụ tình đúng như quan niệm Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu (Kiều).
Từ chỗ mượn cảnh ngụ tình đến chỗ hòa nhập cảnh tình: Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi, Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San (Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt, Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn). Thêm một bước, tâm trạng người chinh phụ hòa nhập vào bóng trăng, trăng giờ đây chính là tâm tưởng, là nỗi niềm chinh phụ dõi theo từng bước chinh phu.
Bóng trăng tâm trạng đi
vào chốn quân doanh, chia sẻ
gian lao khổ cực cùng chồng: Chàng từ đi vào
nơi gió cát, Đêm trăng này nghỉ mắt phương nao? (Tự tòng biệt hậu
phong sa lũng, Minh nguyệt
tri quân hà xứ túc). Trăng tâm tưởng cảnh chiến trận hiểm nguy rình rập trăm bề:
Xông pha
gió bãi trăng ngàn, Tên reo đầu ngựa
giáo dan mặt thành (Thu
phong sa thảo, Minh nguyệt quan sơn,
Mã đầu minh đích, Thành thượng duyên can). Bóng trăng tâm tưởng cũng
dõi soi tới bãi chiến
trường sau chiến trận: Non Kỳ quạnh quẽ trăng
treo, Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò. Hồn tử sĩ gió
ù ù thổi, Mặt chinh phu trăng dõi
dõi soi. Chinh phu tử sĩ mấy
người, Nào ai mạc mặt nào ai gọi
hồn (Thời khắc trung lịch lịch
hoành qua tráng sĩ yếu, Kỳ
sơn cựu trùng nguyệt mang mang. Phi thủy tân phần phong niểu niểu, Phong niểu niểu không
xuy tử sĩ hồn,
Nguyệt mang mang tằng chiếu chinh phu mạo, Chinh phu mạo hề
thùy đan thanh, Tử sĩ hồn hề ai điếu).
Không đi vào nơi gió cát, trở về buồng cũ chiếu chăn, người chinh phụ đã mượn bóng trăng để dõi hồn theo bước chinh phu, tưởng tượng bao nỗi gian lao, lúc chiến trận khốc liệt và nghĩ đến nỗi nghiệt ngã nhất là cảnh chết chóc nơi hoang lạnh như những cô hồn tử sĩ vô danh. Trăng rọi non Kỳ, trăng soi mặt chinh phu. Thoáng qua hình ảnh núi sông gò đống, xoay lặp mấy từ trăng gió, đoạn thơ như lời ai điếu, bi khốc thống thiết, khơi gợi khung cảnh chết chóc rùng rợn, tưởng tượng những hồn oan chưa tan trong gió, âm khí tràn ngập đến lạnh người. Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi gợi cảnh nhận mặt tử sĩ, người chinh phụ gởi hồn đi soi bóng tìm chồng trong vô vọng, thể hiện sự thao thức lo âu, thản não đến tột cùng. Nỗi niềm biết tỏ cùng ai ngoài bóng trăng tâm tưởng.
Trăng soi chinh
phu, gởi hồn theo người đi chinh
chiến, trăng lại còn tự
soi chiếu về cảnh tình người chinh phụ: Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ, Trăng
khuya nương gối bơ phờ tóc mai. Há như ai hồn say bóng lẫn, Bỗng thơ thơ thẩn
thẩn như không (Kỷ độ hoàng hôn thời trùng hiên
nhân độc lập, Kỷ hồi minh nguyệt dạ đơn chẩm mấn tà khi, Bất quan trầm dữ hàm
hôn hôn nhân tự tuý, Bất quan ngu dữ noạ mộng mộng ý như si). Bóng trăng
như sự chứng kiến cảnh ra ngẩn vào ngơ, một loạt trạng từ
được sử dụng
nhằm chỉ trạng thái tâm thần bải hoải bất định, dở tỉnh dở say
do nhớ nhung, âu lo, trăng tâm trạng cũng chính là sự tự nhận dạng của người chinh phụ.
Một đoạn khác, cũng tả trạng thái tương tự: Mặt trăng tỏ thường soi bên gối, Bừng mắt trông sương gội cành khô, Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu, Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi (Hà thuỷ phiên minh diệt, Sâm triền sạ hiện tàng, Nguyệt chiếu hề ngã sàng, Phong xuy hề ngã tường). Bóng trăng sầu muộn soi rọi nỗi niềm cô đơn, chứng kiến khung cảnh tàn tạ, cảm nhận rõ ràng thời gian lạnh lùng trôi như bào mòn hủy diệt.
Đặc biệt là hình ảnh trăng hoa đan quyện lồng ghép vào nhau chẳng khác gì đôi uyên ương tình tự: Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm. Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau! (Phong liệt chỉ song xuyên trướng khích, Nguyệt di hoa ảnh thướng liêm lung, Hoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạch, Nguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng, Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùng, Hoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung). Hoa giúp nguyệt hiện, nguyệt làm thắm hoa, chỉ dùng thủ pháp lặp hai từ hoa nguyệt mà như dệt được bức tranh thấm đẫm ánh sáng và sắc màu. Nhưng rồi, cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, trăng rạng rỡ, hoa thắm tươi, cảnh tượng hòa hợp quyến luyến ai ngờ lại gợi nỗi buồn đau, bức tranh lộng lẫy lại khơi động bao nỗi đau thương chất chứa trong lòng chinh phụ.
Bóng trăng theo dõi, bóng trăng soi chiếu và cuối cùng là bóng trăng nguyện cầu: Nọ thì ả Chức chàng Ngâu, Tới trăng thu lại bắc cầu qua sông (Lương thời tiết Diêu hoàng Nguỵ tử giá Đông phong, Lương thời tiết Chức nữ Ngưu lang hội minh nguyệt). Bóng trăng tâm tưởng qua bao nhiêu cung bậc đau thương tưởng đã mỏi mòn tuyệt vọng, cuối cùng vẫn còn vương víu chút hi vọng dù chỉ thu vào mơ màng mộng tưởng, chút lóe sáng về cổ tích ngày hội ngộ (hội minh nguyệt), buổi Ngưu lang Chức nữ trùng phùng.
12-8-2026


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét