MỤC LỤC BLOG

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Chinh phụ ngâm khúc - BÓNG TRĂNG TÂM TƯỞNG

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Chinh  phụ ngâm khúc, nỗi niềm của  người  phụ  nữ   có chồng  đi chinh chiến, trong  đó, những diễn  biến tâm lí nào nhớ thương, thao thức, lo âu, cô  quạnh,  buồn tủi, thất  vọng…  như những cung bậc của một tâm  trạng triền miên u sầu.

            Nguyên bản chữ Hán của Đặng Trần Côn (theo thể  trường  đoản cú), bản  dịch (theo thể  song thất  lục bát) được  truyền tụng   xưa nay  của Đoàn Thị Điểm (Phan Huy Ích ?) là bản sát nhưng thoát, hay nhất, nhiều  chỗ còn vượt xa nguyên bản.

            Trăng  là nguồn cảm  hứng,   sự   hòa  hợp, gắn    giữa  cảnh và  tình cũng  là phương  tiện  biểu  hiện phổ biến trong  sáng tác văn chương  cổ  điển. Là cảnh ngụ tình, trong Chinh phụ ngâm, trăng trở thành   biểu  tượng tình  cảm, soi chiếu đến tận sâu thẳm,  khơi động, nhói  đau bao trạng huống tâm tư của người  chinh phụ.

            Trăng hiện   diện ngay  trong  đoạn mở   đầu khúc ngâm:  Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt (Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt). Tâm  động  thế  giới động, tình chi  phối  cảnh, lung  lay (hai  chữ sống  động tài tình  do người dịch đưa vào- nguyên bản  chỉ     Trường Thành  nguyệt) biểu  cảm tâm  tình   xao động  của người chinh phụ lay  động bóng trăng. Tâm  trạng hóa cảnh vật, cho cảnh  nhuốm sắc màu, mang  dấu ấn  tình, ngụ tình  đúng như quan niệm Cảnh nào  cảnh chẳng đeo  sầu (Kiều).

            Từ  chỗ  mượn  cảnh ngụ tình đến chỗ  hòa nhập cảnh tình: Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi, Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San (Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt, Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn). Thêm một  bước, tâm  trạng người chinh  phụ  hòa nhập vào  bóng trăng, trăng  giờ đây chính  là tâm tưởng, là nỗi niềm  chinh  phụ dõi theo từng  bước chinh phu.

            Bóng trăng tâm  trạng đi  vào  chốn    quân doanh, chia  sẻ   gian lao  khổ  cực  cùng chồng: Chàng  từ  đi vào  nơi gió  cát, Đêm trăng này  nghỉ  mắt phương nao? (Tự  tòng biệt hậu  phong  sa lũng, Minh nguyệt tri  quân hà  xứ túc). Trăng tâm  tưởng cảnh  chiến trận hiểm nguy rình rập trăm bề: Xông pha  gió bãi  trăng ngàn, Tên  reo đầu ngựa   giáo  dan  mặt thành (Thu phong   sa thảo, Minh nguyệt quan sơn, Mã  đầu minh  đích, Thành thượng  duyên can). Bóng trăng tâm tưởng  cũng   dõi  soi tới  bãi chiến  trường  sau  chiến trận: Non Kỳ  quạnh   quẽ trăng treo, Bến Phì  gió thổi  đìu hiu mấy gò. Hồn tử    gió ù ù thổi, Mặt chinh phu trăng   dõi  dõi   soi. Chinh phu tử    mấy người, Nào  ai mạc mặt nào  ai gọi  hồn (Thời khắc trung lịch lịch hoành   qua tráng  sĩ yếu, Kỳ  sơn cựu trùng nguyệt mang mang. Phi thủy tân phần  phong niểu niểu, Phong niểu niểu  không  xuy  tử    hồn, Nguyệt  mang mang tằng chiếu  chinh phu mạo, Chinh phu mạo  hề  thùy đan thanh, Tử sĩ  hồn hề  ai điếu).

            Không  đi vào nơi gió  cát trở về buồng    chiếu chăn, người  chinh  phụ đã mượn  bóng  trăng  để   dõi  hồn theo  bước chinh phu, tưởng  tượng  bao  nỗi  gian lao, lúc  chiến trận khốc liệt và nghĩ  đến nỗi  nghiệt ngã  nhất  là cảnh  chết chóc nơi  hoang  lạnh như những    hồn tử    vô danh. Trăng rọi non  Kỳ, trăng soi mặt  chinh phu. Thoáng  qua hình   ảnh núi  sông gò  đống, xoay  lặp  mấy  từ trăng gió, đoạn thơ như  lời   ai điếu, bi khốc thống thiết, khơi gợi khung  cảnh chết chóc  rùng  rợn, tưởng tượng  những  hồn oan chưa tan trong  gió, âm  khí tràn ngập đến  lạnh người. Mặt chinh phu trăng  dõi  dõi   soi gợi  cảnh nhận mặt tử sĩ,  người    chinh phụ   gởi  hồn  đi soi  bóng tìm chồng trong vô  vọng, thể   hiện   sự thao  thức  lo  âu, thản não đến  tột cùng. Nỗi niềm   biết  tỏ  cùng   ai ngoài  bóng trăng tâm tưởng.

            Trăng   soi chinh  phu, gởi  hồn theo người  đi chinh  chiến, trăng  lại  còn tự   soi chiếu về  cảnh tình người   chinh phụ: Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ, Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai. Há như ai hồn say bóng lẫn, Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không (Kỷ độ hoàng hôn thời trùng hiên nhân độc lập, Kỷ hồi minh nguyệt dạ đơn chẩm mấn tà khi, Bất quan trầm dữ hàm hôn hôn nhân tự tuý, Bất quan ngu dữ noạ mộng mộng ý như si). Bóng trăng như  sự chứng  kiến cảnh ra ngẩn vào ngơ, một  loạt trạng từ  được  sử   dụng  nhằm chỉ trạng thái tâm thần bải hoải bất  định, dở tỉnh dở say  do  nhớ nhung, âu  lo, trăng tâm trạng  cũng  chính là  sự tự nhận  dạng của người chinh phụ.

            Một  đoạn  khác, cũng  tả trạng   thái  tương  tự: Mặt trăng tỏ thường soi bên gối, Bừng mắt trông sương gội cành khô, Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu, Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi (Hà thuỷ phiên minh diệt, Sâm triền sạ hiện tàng, Nguyệt chiếu hề ngã sàng, Phong xuy hề ngã tường). Bóng trăng sầu  muộn soi rọi  nỗi  niềm    đơn,  chứng  kiến khung  cảnh tàn tạ, cảm nhận rõ ràng thời gian lạnh  lùng  trôi như bào  mòn hủy  diệt.

            Đặc  biệt    hình   ảnh trăng   hoa đan  quyện lồng ghép  vào  nhau  chẳng khác gì đôi uyên ương tình tự: Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm. Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau! (Phong liệt chỉ song xuyên trướng khích, Nguyệt di hoa ảnh thướng liêm lung, Hoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạch, Nguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng, Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùng, Hoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung). Hoa  giúp  nguyệt  hiện,  nguyệt làm thắm  hoa, chỉ dùng  thủ pháp  lặp hai  từ hoa nguyệt mà  như  dệt  được  bức tranh thấm  đẫm ánh   sáng và  sắc  màu. Nhưng  rồi, cảnh nào  cảnh chẳng  đeo  sầu, trăng rạng  rỡ, hoa thắm tươi, cảnh tượng hòa  hợp  quyến  luyến  ai ngờ  lại gợi nỗi buồn đau,  bức tranh lộng lẫy  lại khơi động bao  nỗi đau thương chất chứa trong lòng chinh phụ.

            Bóng trăng theo  dõi,   bóng trăng soi chiếu và  cuối cùng là  bóng trăng nguyện cầu: Nọ thì ả Chức chàng Ngâu, Tới trăng thu lại bắc cầu qua sông (Lương thời tiết Diêu hoàng Nguỵ tử giá Đông phong, Lương thời tiết Chức nữ Ngưu lang hội minh nguyệt). Bóng trăng tâm tưởng qua bao  nhiêu  cung bậc  đau thương tưởng đã mỏi mòn tuyệt  vọng, cuối cùng vẫn  còn vương  víu chút hi  vọng dù  chỉ  thu vào mơ  màng mộng  tưởng, chút lóe  sáng  về cổ  tích ngày  hội ngộ (hội minh nguyệt),  buổi Ngưu  lang Chức nữ  trùng phùng.

12-8-2026

 

           

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét