BÚT NGUYÊN TỬ
ảnh internet
Thời gian trừu tượng, vô thanh vô ảnh vô hình, hiện hữu nhưng không thể cảm nhận trực tiếp mà chỉ có thể cảm nhận gián tiếp thông qua sự vật hiện tượng do giác quan thu lại. Trong văn chương, nhờ ngôn ngữ hình tượng hóa, người đọc liên tưởng và cảm nhận được sự dịch chuyển.
Với Truyện Kiều, tác phẩm trữ tình tích tụ vô vàn hình tượng thời gian, qua đó thể hiện sự chuyển biến tâm tư tình cảm của nhân vật thể hiện dưới hai dạng thức:
Dịch chuyển theo không gian mang tính hình tượng, thông qua những diễn biến, chuyển động của sự vật hiện tượng. Ngày xuân con én đưa thoi, hình ảnh én liệng, thoi đưa nhanh chóng rất cụ thể, ấn tượng giúp liên tưởng mùa xuân qua mau vốn rất trừu tượng. Nhiều lần tác giả sử dụng thủ pháp mây hồng vẽ trăng (hồng vân thác nguyệt), tả không gian để biểu tỏ thời gian, từ chuyển dịch ngày: Tan sương đã thấy bóng người, Mặt trời gác núi chiêng đà thu không, Mảnh trăng đã gác non đoài, Chênh chếch bóng nguyệt xế mành đến chuyển dịch mùa: Đào vừa phai thắm sen đà nẩy xanh, Sen tàn cúc nở hoa… Chỉ tả không gian mà rõ được thời gian, thời gian như phục sẵn trong sự vật.
Sự dịch chuyển thời gian còn mang tính chất tâm trạng. Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao, ẩn dụ đối xứng, con người đơn độc trong cảnh trí leo lét, thời gian chầm chậm trôi như bào mòn làm cho tâm tư héo hon, mòn mỏi. Chỉ một câu thơ, tác giả đã diễn đạt tài tình sự chuyển động bốn mùa: Sen (hạ) tàn cúc (thu) lại nở hoa- Sầu dài sầu ngắn đông đà sang xuân, bao phủ buồn đau suốt năm trường. Biện pháp cực tả sự vật đã khéo léo hiển thị tâm trạng trong cảnh canh tàn đêm thâu: Nỗi riêng riêng những bàn hoàn- Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn. Thời gian phục sẵn, nhờ sự tương ứng, hòa hợp giữa không gian và tâm trạng mà hiển lộ.
Từ đầu tác phẩm, Nguyễn Du đã mượn thành ngữ gốc Hán: Thương hải biến vi tang điền (Biển xanh hóa thành ruộng dâu), một cuộc xoay đảo đất trời theo chu kì để nói đến thời gian: Trải qua một cuộc bể dâu- Những điều trông thấy mà đau đớn lòng, Cơ trời dâu bể đa đoan. Cuộc xoay đảo của tạo hóa vô cùng phức tạp, hình ảnh vật đổi sao dời, dịch chuyển thời gian đi cùng diễn biến tâm trạng, kéo theo bao nỗi bi thương,
Câu thơ đầu tiên của truyện đã là một ngẫm suy về cuộc đời, ước định đời người qua thời gian: Trăm năm trong cõi người ta. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, tác giả nói đến kiếp người như sự diễn biến nối tiếp nhau giữa chuỗi quá khứ (tiền kiếp), hiện tại (hiện kiếp) và tương lai (kiếp lai sinh): Kiếp này duyên đã phụ duyên- Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. Kiếp này nợ trả chưa xong- Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau. Kiếp sau là hệ quả của kiếp trước, kiếp này gây hoặc trả chưa xong tội nghiệp thì kiếp sau gánh chịu, cứ thế Những điều trông thấy mà đau đớn lòng lại tái diễn trong cõi vô minh, trong chuỗi vô tận thời gian.
Thời gian trong Truyện Kiều cũng diễn biến theo lịch số bình thường, có ngày (sớm, trưa, chiều, tối), có tháng, có năm nhưng không đơn thuần nhạt nhẽo mà sinh động nhờ tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật. Thời gian tuần hoàn biểu tỏ qua không gian, thể hiện tâm trạng: Bẽ bàng mây sớm đèn khuya- Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Sự dịch chuyển không gian, sự vật cũng tạo liên tưởng mạnh về sự dịch chuyển thời gian nhất là chiều tối: Tà tà bóng ngả vể tây, Bóng tà như giục cơn buồn gợi tả sự mất mát dần dà. Sớm trưa, sớm khuya, sớm tối… được sử dụng tạo sự tuần hoàn của thời gian, có khi thanh nhàn, thanh tao thoát tục: Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao, có khi thác loạn dồn dập ê chề: Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh trong Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm. Đặc biệt, tâm trạng sầu đau của Thúy Kiều thường hiển hiện về đêm, lẻ loi đơn độc: Nàng thì chiếc bóng song mai- Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây. Thức đêm mới biết đêm dài nhất là với một tâm trạng đau thương mỏi mòn. Tâm trạng gắn với thời gian, lúc lưỡng lự canh chầy, lúc trằn trọc canh khuya, nhất là lúc một mình một cảnh, không gian thanh vắng, thời gian ngưng đọng lại: Khi tỉnh rượu lúc tàn canh- Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Kiều, thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, ở tuổi Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê, thời gian gắn với mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Chung quanh nàng là xuân nào ngày xuân, đêm xuân, buồng xuân, Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài. Sự dịch chuyển từ xuân sang hạ: Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua, Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh chỉ là dịch chuyển tự nhiên chưa động vào sâu thẳm tâm can. Chỉ đến khi gia biến cùng ám ảnh đồng cảm với số kiếp Đạm Tiên: Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương thì thời gian không còn xuân tươi mà thấm đẫm u buồn.
Cổ thi có hai câu tả cảnh chuyển mùa trở thành kinh điển: Ngô đồng nhất diệp lạc- Thiên hạ cộng tri thu (Một là ngô đồng rụng- Thiên hạ biết mùa thu), Nguyễn Du đã biến đổi sáng tạo sự dịch chuyển từ hạ sang thu: Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng, Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô. Chuyển mùa ở đây có cảnh đổi màu lá, lá rụng lác đác, là vàng lác đác biểu hiện buổi chớm thu, rất nhẹ nhàng, tinh tế.(**)
Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần. Xuân thu, ngôn từ hoán dụ dùng hai mùa tiêu biểu để gọi thay cho năm, cho tuổi qua đó thể hiện sự dịch chuyển thời gian. Tâm trạng chủ yếu của Thúy Kiều là buồn bã đau thương, thời gian tương thích vẫn là mùa thu. Cổ thi có câu Nhất nhật bất kiến như tam thu hề- Một ngày không gặp (dài) như ba năm. Nguyễn Du viết: Sầu đong càng lắc càng đầy- Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. Những từ đong, lắc có tác dụng lượng hóa nỗi buồn, từ dồn để gom thời gian càng gợi lên, giúp hình dung một trạng thái tình cảm ủ dột khôn dứt. Vui qua mau, Ngày vui ngắn chẳng tày gang còn buồn lê thê, càng cố quên càng thêm nhớ, nén lại bùng, càng cố giảm lại càng tăng, sầu dài sầu ngắn đeo đẳng triền miên bất tận với thời gian.
Đặc biệt trong Truyện Kiều, thời gian dịch chuyển theo trăng. Điển tích hình tượng thỏ (ngọc thỏ)- mặt trăng, ác (kim ô, quạ)- mặt trời, Trải bao thỏ lặn ác tà, Lần lần thỏ bạc ác vàng được vận dụng. Các từ trải, lần lần thêm vào điển tích gợi lên sự dịch chuyển tuần tự của thời gian. Từ Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai đến cảnh trăng khuyết: Mảnh trăng đã gác non đoài, từ cảnh trăng lên cao: Sân thu trăng đã nhiều phen đứng đầu đến cảnh trăng xế: Chênh chênh bóng nguyệt xế mành, Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần, Lần đường theo bóng trăng tà về tây, tác giả khéo sử dụng các tính từ, động từ kết hợp với bóng trăng tạo liên tưởng chuyển di không gian, chuyển di thời gian phù hợp với tâm trạng.
Truyện Kiều là một sự hòa hợp nhuần nhuyễn các yếu tố thời gian, không gian và tâm trạng. Nhờ không gian hình tượng mà thời gian hiển hiện sinh động, nhờ chuyển tải tâm tư tình cảm nên thời gian không còn lạnh lùng trừu tượng, mà như được mang khoác một linh hồn. Qua thời gian, không gian càng tô đậm nét, càng thêm ý nghĩa, với sự chuyển dịch thời gian, các cung bậc tình cảm với bao nỗi niềm buồn vui nhất là những đau thương của một kiếp người càng thêm thấm thía.
----------
(*) Mời đọc thêm CẢM NHẬN THỜI GIAN
(**) Một câu thơ nhiều người cho là tả cảnh Trung Hoa, không phải cảnh Việt Nam: Người lên ngựa kẻ chia bào- Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Đúng, ngay cả tác phẩm Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) Nguyễn Du cũng phóng tác thi hóa từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân. Mấy ai biết cây ngô đồng nhưng ai mà chẳng rung động trước câu thơ Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng (Nguyễn Du), Ô hay buồn vương cây ngô đồng, Vàng rơi! vàng rơi! Thu mênh mông (Bích Khê)... Cảnh Tàu nhưng cảm nhận, tâm hồn ta, cảnh ở đây toát lên từ ngôn ngữ hình tượng hóa, thăng hoa thành nghệ thuật, đọc lên, chưa cần biết rừng cây phong thế nào, chỉ thấy mùa thu đã phủ đầy khắp nẻo non sông làm tâm lòng rung động, ngôn ngữ văn chương thổi hồn tạo sự đồng cảm vượt biên giới, vượt thời gian, vượt lên khung cảnh hình ảnh cụ thể là vậy.
7-7-26



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét