MỤC LỤC BLOG

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

DỊCH CHUYỂN THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU (*)

BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

            Thời  gian trừu tượng, vô thanh   vô ảnh  vô hình, hiện  hữu nhưng không thể  cảm nhận trực tiếp mà chỉ có thể cảm nhận gián tiếp thông qua sự vật hiện tượng  do  giác quan thu lại. Trong  văn chương, nhờ ngôn ngữ hình tượng hóa, người đọc liên tưởng và cảm nhận được  sự  dịch chuyển.

Với Truyện Kiều, tác phẩm  trữ tình tích tụ vô   vàn  hình tượng thời  gian, qua  đó thể hiện sự chuyển  biến tâm tư  tình cảm của nhân vật thể  hiện  dưới hai  dạng thức:

Dịch chuyển theo  không gian mang tính hình tượng, thông  qua  những   diễn  biến, chuyển động của   sự  vật  hiện tượng. Ngày  xuân con  én đưa thoi, hình   ảnh én  liệng, thoi  đưa nhanh  chóng rất cụ thể, ấn tượng giúp liên tưởng mùa xuân qua  mau vốn rất  trừu tượng. Nhiều  lần tác  giả sử  dụng thủ pháp mây hồng vẽ trăng (hồng  vân thác nguyệt), tả  không   gian để biểu tỏ thời  gian, từ chuyển  dịch ngày:  Tan sương  đã thấy  bóng người,  Mặt  trời  gác núi chiêng  đà thu  không, Mảnh trăng  đã  gác non  đoài, Chênh  chếch  bóng nguyệt  xế  mành đến chuyển  dịch mùa: Đào  vừa phai thắm sen đà  nẩy xanh, Sen tàn cúc nở hoa… Chỉ  tả  không gian      được thời  gian, thời gian như  phục  sẵn  trong  sự  vật.

Sự   dịch chuyển thời  gian còn  mang tính chất tâm trạng. Tuần trăng khuyết  đĩa  dầu hao, ẩn  dụ  đối xứng, con người đơn độc trong  cảnh trí leo lét, thời gian chầm chậm trôi như bào mòn làm cho tâm tư héo hon, mòn mỏi. Chỉ một câu thơ, tác giả  đã  diễn đạt tài  tình   sự chuyển động   bốn  mùa: Sen (hạ) tàn cúc (thu)  lại nở hoa- Sầu  dài  sầu ngắn đông  đà  sang  xuân, bao  phủ  buồn đau suốt năm  trường. Biện  pháp cực tả  sự  vật đã khéo léo hiển thị  tâm trạng trong cảnh canh tàn đêm thâu: Nỗi  riêng  riêng những  bàn hoàn- Dầu  chong trắng  đĩa  lệ tràn thấm khăn. Thời  gian phục   sẵn, nhờ   sự tương ứng, hòa  hợp  giữa không gian  và tâm trạng mà hiển lộ.

Từ  đầu tác phẩm, Nguyễn Du đã mượn thành ngữ  gốc Hán: Thương hải  biến vi tang điền (Biển  xanh hóa thành ruộng  dâu), một cuộc   xoay đảo  đất  trời theo chu kì để  nói đến thời gian: Trải  qua một cuộc bể  dâu- Những  điều  trông thấy  mà đau đớn lòng, Cơ  trời dâu bể  đa  đoan. Cuộc   xoay đảo của tạo hóa vô  cùng phức tạp, hình   ảnh vật  đổi  sao dời, dịch chuyển thời   gian đi cùng diễn  biến tâm trạng, kéo  theo bao nỗi bi  thương,

Câu  thơ  đầu tiên của  truyện đã là  một ngẫm  suy về  cuộc  đời, ước định   đời người qua thời  gian: Trăm năm  trong cõi người ta. Chịu   ảnh hưởng của tư   tưởng Phật  giáo, tác  giả nói đến  kiếp người như  sự   diễn  biến nối tiếp nhau  giữa chuỗi quá khứ (tiền  kiếp), hiện tại (hiện kiếp) và  tương  lai (kiếp lai sinh): Kiếp này duyên đã  phụ  duyên- Dạ  đài còn  biết  sẽ   đền  lai sinh. Kiếp này  nợ  trả chưa  xong- Làm chi thêm một  nợ chồng kiếp sau. Kiếp  sau là hệ  quả  của  kiếp  trước, kiếp  này gây hoặc trả chưa  xong tội nghiệp  thì  kiếp  sau gánh chịu, cứ thế Những  điều  trông thấy  mà đau đớn lòng lại tái  diễn  trong cõi vô minh, trong  chuỗi vô tận thời  gian. 


Thời  gian trong  Truyện Kiều  cũng   diễn  biến theo lịch  số bình thường, có ngày (sớm, trưa, chiều, tối), có tháng, có năm nhưng không  đơn thuần nhạt nhẽo mà sinh  động nhờ tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ  thuật. Thời  gian tuần  hoàn  biểu tỏ  qua không   gian, thể hiện tâm  trạng: Bẽ  bàng mây sớm  đèn khuya- Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Sự   dịch chuyển  không gian, sự  vật   cũng tạo liên tưởng  mạnh   về sự   dịch chuyển thời gian  nhất   là chiều  tối: Tà tà  bóng ngả  vể tây, Bóng tà như giục cơn  buồn  gợi tả   sự  mất mát dần  dà. Sớm  trưa,  sớm khuya, sớm tối… được  sử  dụng  tạo   sự tuần hoàn  của thời  gian, có  khi  thanh nhàn, thanh  tao thoát tục: Sớm khuya  tiếng hạc tiếng  đàn tiêu dao, có  khi thác loạn dồn dập ê chề: Sớm  đưa Tống Ngọc tối  tìm Tràng Khanh  trong Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm. Đặc biệt, tâm trạng sầu đau của Thúy  Kiều thường hiển hiện về  đêm,  lẻ loi  đơn độc: Nàng thì chiếc bóng  song mai- Đêm thâu đằng  đẵng nhặt  cài then mây. Thức đêm mới biết   đêm dài nhất    với  một tâm trạng đau  thương mỏi mòn. Tâm trạng gắn với thời  gian, lúc lưỡng lự  canh chầy, lúc trằn trọc canh khuya, nhất  là lúc một  mình một cảnh, không gian thanh  vắng, thời  gian ngưng  đọng  lại: Khi tỉnh  rượu lúc tàn  canh- Giật  mình mình  lại thương  mình   xót xa.

Kiều, thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, ở  tuổi Xuân xanh  xấp  xỉ  tới tuần cập kê, thời  gian gắn   với mùa   xuân tươi đẹp, tràn đầy  sức sống. Chung  quanh nàng     xuân nào ngày  xuân, đêm xuân,  buồng  xuân, Hoa  xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài. Sự dịch chuyển  từ  xuân sang  hạ: Thưa  hồng rậm lục  đã chừng  xuân qua, Đào  đà phai thắm  sen vừa nẩy  xanh  chỉ là  dịch  chuyển  tự  nhiên chưa động vào  sâu thẳm tâm can. Chỉ  đến  khi gia   biến cùng  ám  ảnh đồng  cảm với số  kiếp Đạm Tiên: Nửa chừng  xuân thoắt gãy cành thiên hương thì thời  gian  không còn  xuân tươi mà thấm đẫm u buồn.

Cổ thi có hai câu tả  cảnh  chuyển  mùa trở thành kinh  điển: Ngô đồng nhất diệp lạc- Thiên hạ  cộng  tri thu (Một    ngô đồng  rụng- Thiên hạ  biết  mùa thu), Nguyễn Du đã  biến đổi sáng tạo   sự  dịch chuyển từ hạ   sang thu: Sân ngô cành  biếc  đã chen lá vàng, Giếng vàng  đã  rụng một vài lá ngô. Chuyển mùa ở  đây có  cảnh   đổi màu lá, lá  rụng  lác đác, là  vàng lác đác  biểu hiện buổi   chớm thu, rất nhẹ nhàng, tinh tế.(**)

Xuân thu  biết đã  đổi thay mấy  lần.  Xuân thu, ngôn từ hoán  dụ dùng hai mùa  tiêu   biểu  để  gọi thay cho năm, cho tuổi qua  đó thể hiện  sự  dịch chuyển thời gian. Tâm  trạng chủ yếu của Thúy Kiều     buồn bã  đau thương, thời  gian tương thích vẫn là mùa thu. Cổ thi có câu Nhất nhật bất  kiến  như tam thu hề- Một  ngày  không   gặp (dài) như  ba  năm. Nguyễn Du  viết: Sầu  đong  càng lắc càng  đầy- Ba thu dồn  lại một ngày dài ghê. Những  từ đong, lắc có tác  dụng  lượng hóa nỗi  buồn, từ  dồn  để  gom  thời gian  càng gợi lên, giúp hình dung một trạng thái tình cảm ủ dột  khôn dứt. Vui qua mau, Ngày  vui ngắn chẳng tày gang  còn buồn lê thê, càng cố quên càng thêm nhớ, nén lại  bùng, càng cố giảm lại càng tăng, sầu  dài  sầu ngắn đeo đẳng triền  miên bất tận  với thời  gian. 

Đặc  biệt trong Truyện Kiều, thời  gian  dịch chuyển theo  trăng. Điển tích hình tượng thỏ (ngọc thỏ)- mặt trăng, ác (kim ô, quạ)- mặt trời, Trải bao thỏ lặn  ác tà, Lần lần thỏ bạc  ác vàng được vận  dụng. Các từ trải, lần lần thêm vào  điển tích gợi  lên sự  dịch chuyển tuần tự của thời  gian. Từ Đèn khuya   chung bóng trăng tròn sánh  vai đến cảnh  trăng khuyết: Mảnh trăng đã gác non đoài, từ cảnh trăng lên cao:  Sân thu trăng  đã nhiều phen đứng  đầu  đến  cảnh trăng  xế:  Chênh  chênh  bóng nguyệt  xế  mành,  Bóng trăng đã   xế hoa lê  lại gần,  Lần đường theo  bóng trăng tà về tây, tác  giả  khéo    sử  dụng  các tính  từ, động từ kết  hợp với  bóng trăng tạo liên tưởng chuyển  di không gian, chuyển di thời gian  phù  hợp  với tâm trạng.

Truyện Kiều là một  sự hòa hợp  nhuần nhuyễn các yếu tố thời  gian, không gian và tâm trạng.  Nhờ không gian hình  tượng mà thời gian hiển hiện sinh  động, nhờ chuyển tải tâm tư  tình  cảm nên thời  gian  không   còn  lạnh lùng trừu tượng, mà như  được  mang khoác một linh hồn. Qua  thời  gian, không gian  càng tô đậm nét, càng thêm ý nghĩa, với sự chuyển  dịch thời gian, các cung bậc tình  cảm với  bao nỗi niềm buồn  vui nhất  là những  đau thương của  một kiếp người càng thêm thấm thía.

----------
(*) Mời đọc  thêm  CẢM NHẬN THỜI GIAN 

(**) Một câu thơ nhiều người cho là tả cảnh Trung Hoa, không phải  cảnh  Việt  Nam: Người lên ngựa kẻ chia bào- Rừng phong thu đã  nhuốm màu quan san. Đúng, ngay  cả  tác phẩm Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) Nguyễn Du  cũng phóng tác thi hóa  từ  Kim Vân Kiều  truyện của Thanh tâm tài  nhân. Mấy  ai  biết  cây ngô  đồng  nhưng ai mà chẳng rung  động  trước câu thơ Sân ngô cành biếc  đã  chen lá vàng (Nguyễn Du), Ô hay buồn vương cây ngô đồng, Vàng  rơi! vàng  rơi! Thu mênh mông (Bích Khê)... Cảnh  Tàu nhưng cảm nhận, tâm hồn ta, cảnh ở đây toát  lên từ ngôn ngữ  hình tượng hóa, thăng hoa thành nghệ thuật, đọc lên, chưa  cần  biết rừng  cây  phong thế nào, chỉ thấy mùa thu đã  phủ  đầy khắp nẻo  non  sông làm tâm lòng  rung  động, ngôn ngữ  văn chương thổi hồn tạo  sự đồng  cảm  vượt  biên giới, vượt thời  gian, vượt   lên khung  cảnh hình   ảnh cụ thể là vậy.

7-7-26

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét