MỤC LỤC BLOG

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

CẢNH NÀO CẢNH CHẲNG ĐEO SẦU (Sự hòa quyện CẢNH - TÌNH trong Truyện Kiều)

TIỂU  HÙNG TINH

ảnh internet

            Tức  cảnh   sinh tình, tình  phát  sinh từ  cảnh   còn đây,  với Nguyễn Du, Cảnh nào  cảnh  chẳng  đeo  sầu, Người  buồn cảnh có vui đâu bao giờ,   tình có  trước, thấm đẫm và chi  phối sự vật.

            Cảnh  vốn vô tâm, tình   mượn  cảnh   để  thể hiện, cảnh biến hiện  tùy tâm, do tâm. Tuy thế, bút  pháp nhuần nhuyễn cao tay phải vượt  lên thái độ  coi cảnh là phương tiện   bị   động,  cái cớ, cái móc treo chiếc áo tình  cảm  mà là  làm cho  cảnh  tình hòa quyện, đan  lồng  vào  nhau, cảnh trữ tình như được  thổi  hồn,  càng thêm sinh động,  tình cảnh cùng thăng hoa.

            Truyện  Kiều- Đoạn  trường tân thanh- tiếng kêu đứt ruột, toàn tác phẩm chứa   đựng nỗi  buồn nỗi  đau triền  miên từ  âu  lo thân  phận, tình yêu tan  vỡ, cách  trở  chia lìa đến những khổ  đau khốc liệt đày đọa tan nát cuộc đời, đau tột   cùng nỗi khổ  đau. Tình nhiều  trạng huống  do vậy   cảnh cũng phải  nhiều  sắc  thái biểu hiện.

            Kiều, cô gái khuê các thanh tân, tài  sắc  vẹn toàn, tâm  tư lẽ ra hướng  đến tương lai rạng   rỡ nhưng không, con người này  sớm ray  rứt  định  mệnh,  cảm thông thân  phận  khổ  đau nhất     khi viếng mộ ca kĩ tài hoa  mệnh  bạc Đạm Tiên: Nao  nao   dòng nước uốn  quanh- Nhịp  cầu  nho nhỏ  cuối ghềnh  bắc ngang- Sè      nấm đất bên đường- Dàu   dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Tính chất sự  vật được  tình hóa,  nao nao, dàu  dàu, nửa vàng nửa xanh, khi gợi nỗi  xốn xang tâm khảm, khi  như  héo úa, ủ  ê. Hình   ảnh       nấm đất bên đàng  càng gợi nỗi tang thương, thân  phận tàn  tạ  mỏi  mòn trong   dòng   đời vô tâm. Nô  nức yến oanh, Ngựa   xe như nước  áo  quần như nêm, không gian ngày  hội Thanh  minh càng  rộn ràng bao nhiêu thì cuối  cùng  càng lẻ  loi, đơn độc, lạnh lùng bấy nhiêu. Cảnh tươi  xinh Cỏ non  xanh tận chân trời   của ngày xuân kia không còn  mà ở  đây, chỉ  trong một  buổi- sau khi thăm mộ  Đạm Tiên- cỏ  cây trở nên vàng    héo úa: Một  vùng  cỏ  áy bóng tà- Gió hiu hiu thổi một vài  bông  lau. Từ một tâm  hồn còn vô tư trong  sáng  đến  đồng  cảm với thân phận bi thương của một kiếp người, tình  biến đổi  nên cảnh  cũng  biến đổi theo, tình cảnh hô  ứng, hòa hợp, không gian biến hiện để  cực tả từng trạng huống tâm tư.  Nguyễn Du  còn dùng  thủ pháp hư thực tương  sinh (hư thục  sinh nhau) phóng bút về  cảnh âm hồn  linh hiển- bóng ma  Đạm Tiên: Ào  ào đổ  lộc rung  cây- Ở  trong  dường có hương bay ít nhiều- Đè chừng ngọn gió lần theo- Dấu giày từng bước in rêu rành rành. Cảnh ma mị trong buổi chiều tà,  vượt  xa nỗi  buồn là  nỗi đau, bóng  ma định mệnh hiện lên ám  ảnh  cuộc  đời Kiều. 

              con người Kiều, nỗi  buồn  như toát ra   tự nhiên, thường  trực, định hình:  Nét  buồn như  cúc điệu gầy như mai. Khi người khác đang  hồn nhiên  với giấc   xuân thì  Kiều một  mình một  bóng thao thức nỗi niềm suốt  canh tàn: Hiên tà gác bóng chênh  chênh- Nỗi  riêng  riêng trạnh tấc   riêng một   mình. Gia   biến  khốc liệt   đẩy vào  thế bán mình, bị dẫn vào  đất  khách: Đùng  đùng gió  giục mây vần- Một  xe  trong cõi hồng trần như bay. Đang   Êm  đềm  trướng  rủ  màn  che  là thế  mà bây giờ  tai  ương giáng họa, đất  trời quay  cuồng chao đảo,  thân  phận con người  bị  chuyến  xe  định mệnh khốc liệt cuốn  đi, không  còn nơi bám  víu. Cô thân nơi  đất  khách quê người, nỗi   buồn bao  trùm tất  cả: Nàng thì  dặm khách xa  xăm- bạc phau cầu  giá  đen  rầm ngàn mây- Vi lô san sát  hơi may- Một  trời  thu để  riêng  ai một người. Nỗi  buồn lan tỏa trong  hơi lạnh, tối tăm    trụ, riêng  mình, dưới bầu  trời, nàng  ôm  trọn cả niềm đau.

            Sau những sóng gió nghiệt ngã vùi  dập  tới mức phải tự tử, được  đưa ra ở  lầu Ngưng Bích, nỗi  buồn phát tỏa  vào từng  cảnh  vật rồi dội lại tâm can, cho nàng  chiêm nghiệm và thấm thía nỗi  đau thân  phận: Buồn  trông  cửa bể chiều  hôm- Thuyền ai thấp thoáng  cánh  buồm xa  xa- Buồn trông ngọn nước mới sa- Hoa trôi man mác  biết  là về đâu- Buồn  trông nội cỏ  dàu  dàu- Chân mây  mặt đất một màu xanh   xanh- Buồn trông  gió cuốn mặt duềnh- Ầm ầm tiếng   sóng kêu  quanh  ghế ngồi. Nỗi  buồn tái diễn  như điệp  khúc, nàng liên tưởng cảnh biển  khơi mênh  mông   sóng gió, liên tưởng thân phận nhỏ nhoi trong khoảng vô định, mong  manh trôi  dạt- ở đây Nguyễn Du làm mới thành ngữ bèo dạt mây trôi thành  hoa trôi- tất  cả  đều   mỏng manh  yếu đuối, dễ  bị  vùi dập, nỗi  buồn  lan tỏa, ngút ngàn. Và  rồi,  nỗi    buồn đau lặng lẽ gậm nhấm đó   đã  phải chịu  đựng thêm những  đợt  sóng hiện thực dữ  dội, báo động đớn đau chưa  dứt- nàng bị lừa,  bị   ép và  rồi phải  chấp nhận tiếp khách  làng chơi. Đoạn tả là những  câu tuyệt  bút,  sự quyện hòa  hô ứng nhuần nhuyễn giữa cảnh và  tình.

            Rơi vào  lầu xanh, rơi vào  cảnh   đớn đau vùng cực, bị   nỗi  buồn  bủa  vây, Thúy Kiều  bị  giam hãm  trong   nỗi  buồn đau  khôn xiết: Song   sa      phương  trời- Nay hoàng hôn đã  lại mai hôn hoàng- Lần lần  thỏ  bạc  ác  vàng- Xót người  trong hội đoạn tràng  đòi cơn . Nơi  phòng  khuê (song  sa) kia chính  là phòng chờ  các biến cố, chốn    ngục giam hãm thân phận, cô  lập làm héo mòn cuộc đời nàng. Cuộc   sống héo  hắt dần    trôi, tác   giả khéo  đảo ngữ hoàng  hôn hôn  hoàng tạo ấn tượng  xoay chuyển trùng lặp   về khung  cảnh và thời gian, hai chữ  lần lần trước  hình   ảnh thỏ bạc  ác vàng tạo liên tưởng  dịch chuyển lầm lũi của tháng ngày, nỗi  đau lặp  đi lặp lại  miên  trường.

            Mười lăm năm luân lạc   là chuỗi  buồn  đau, hòa   cùng  nỗi đau thân  phận  là những  nhớ thương mòn mõi, chia  li tan  vỡ, tuyệt vọng dậy  lên thành những   đợt sóng đau thương.

            Thuở  Kim Kiều tương tư, hai nhà chỉ cách nhau một  khoảng tường hoa, thế nhưng buổi  ban   đầu hẹn hò như  đã  có điềm báo trắc  trở: Sông Tương   một dãi nông  sờ- Bên  trông  đầu nọ bên chờ cuối kia.  Tác  giả  mượn  ý   trong bài Trường  tương tư   của Lương Ý Nương: Quân (Ngã) tại Tương  giang   đầu- Thiếp (Quân)  tại  Tương giang vĩ- Tương tư bất tương kiến- Đồng  ẩm Tương giang thủy (Chàng ở  đầu sông Tương- Thiếp ở  cuối sông Tương- Nhớ nhau  không gặp  mặt- Cùng uống nước  sông Tương). Câu thơ  tả   cảnh  lưu luyến mong chờ của  tình  yêu ban  đầu  lại đậm  dấu  ấn  của  những lời thơ chia biệt cách ngăn. Có thể  đây  là yếu tố phục sẵn trong kết cấu, dấu hiệu  báo  trước cho  những nỗi   niềm li  biệt  về  sau.

            Nhớ Kim Trọng, ngươi  đã từng hò hẹn thề nguyền, cũng  một  vầng trăng, xưa vằng  vặc giữa  trời- Đinh ninh hai miệng   một lời song   song  còn nay Thấy  trăng  mà thẹn những lời non  sông. Trăng  xưa xum  họp, hòa  hợp, trăng nay cách  trở chia li. Một  vầng trăng hai tâm  trạng, trăng   xưa sáng sủa rạng ngời còn nay như chỉ hé thoáng  qua, tình   duyên lỡ  làng nên nàng không dám đối  diện  bóng trăng. Đối chiếu hai hoàn  cảnh   mới thấy hết nỗi bi thiết tội tình. Vầng trăng  đó luôn  đi theo nàng, lúc ở  lầu   Ngưng  Bích, Vẻ  non  xa tấm trăng gần ở chung. Dù tan vỡ nhưng tình yêu  nỗi nhớ  luôn canh  cánh  bên  lòng: Tưởng người  dưới nguyệt chén đồng- Tin  sương  sớm những rày  trông mai chờ. Bên  trời góc biển    vơ- Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Càng thương chàng mỏi mòn chờ  đợi càng  tủi phận mình, tấm thân ô  uế, lạc loài đơn độc.

            Hết  nạn nọ   đến nạn  kia, nỗi  đau  đời  Kiều ngày  thêm chất  chứa. Từ phẫn  nộ với phản ứng tự  sát  đến chỗ phó mặc để rồi  mỏi mòn chua  xót và  cuối  cùng    tuyệt  vọng  cùng  cực dẫn  đến tự vận.

            Dấu hiệu  buồn đau thê lương cùng cực đầu  tiên là lúc giao  kỉ  vật   để  nhờ Thúy Vân nối duyên  cùng Kim  Trọng. Tan vỡ tình  đầu nàng như đã chết, Kiều  dặn Thuý Vân như lời trối trăng: Mai sau    có bao giờ- Đốt lò  hương ấy  so tơ phím này- Trông ra  ngọn cỏ lá  cây- Thấy hiu hiu  gió thì hay chị về. Nỗi  đau  tình hóa thân vào cỏ lá, cụm  từ hiu hiu  gió đầy  ma lực cực tả nỗi bi thương yếu đuối, vương vất của  một linh hồn nhỏ nhoi cô quạnh. Và thực, sau đó là Cạn lời, hồn ngất, máu say- Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng.

            Bi  cảnh cùng cực cao  độ nhất  là lúc  bị Hồ  Tôn Hiến  ép gả  cho Thổ   quan. Bao  đày đọa, bao khổ  đau nhục nhã  nàng   đều  nhẫn  nhục chịu  đựng, tuyệt  vọng nhưng  cố  sống nhưng   đến   nỗi  đau cùng cực này, nghĩ rằng  Giết chồng  mà lại lấy chồng- Mặt nào  còn đứng ở trong cõi đời, nàng quyết chí quyên sinh.

            Suy nghĩ, xâu chuỗi lại những biến cố cuộc  đời,  Kiều  đã    hồ nghĩ  đến cái chết: Đành thân cát dập, sóng vùi…  Chân trời, mặt bể, lênh đênh- Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào? Trước  đây, khi  bị  Tú bà ép  tiếp khách làng chơi, nàng  phẫn uất tìm đến cái chết còn  bây giờ,  nàng suy nghĩ về  cái chết, chấp nhận cái chết  bơ vơ  giữa mênh  mông vô định. Đêm đã tàn: Mảnh trăng đã  gác non đoài nàng vẫn  Một  mình luống những  đứng ngồi chưa  xong. Thâu  đêm  suy nghĩ chứng tỏ  nàng chuẩn  bị  tinh thần đầy  đủ  và xốn  xang  chờ giây phút cuối cùng. Đến  khi nghe  Triều  đâu nổi sóng  đùng  đùng. Hỏi ra  mới biết  rằng   sông Tiền Đường, nàng liền đi đến quyết định. Âm thanh đùng  đùng biến đổi  trạng thái, chuyển từ im ắng sang rúng  động dữ   dội, từ trăn  trở thao  thức   đến  hành  động, đẩy trạng huống tinh thần đến đỉnh điểm  đúng ngay địa chỉ  sông Tiền Đường,  con   sông định mệnh    hồn ma Đạm Tiên  đã  từng báo  mộng: Sông Tiền Đường  sẽ hẹn hò về  sau đã  hiện hữu. Định  mệnh đã  đến, Đạm Tiên  hô, Thúy  Kiều  ứng: Đạm Tiên, nàng nhé có hay? Hẹn ta, thì đợi dưới này rước ta. Và một quyết  định   dữ   dội nhất  từ cùng tột  khổ  đau: Thôi thì một thác cho rồi- Tấm lòng phó thác  trên  trời dưới sông- Trông vời con nước mênh  mông- Đem mình gieo  xuống giữa dòng trường giang.

Bao buồn khổ, đớn đau, oan khuất, nhục nhã, tuyệt  vọng gói  trọn  trong một  kiếp  người tài hoa mệnh bạc, tất thảy gieo  thả vào  không gian mịt  mù vô định.

2-7-26

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét