TIỂU HÙNG TINH
ảnh internet
Tức cảnh sinh tình, tình phát sinh từ cảnh còn đây, với Nguyễn Du, Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, tình có trước, thấm đẫm và chi phối sự vật.
Cảnh vốn vô tâm, tình mượn cảnh để thể hiện, cảnh biến hiện tùy tâm, do tâm. Tuy thế, bút pháp nhuần nhuyễn cao tay phải vượt lên thái độ coi cảnh là phương tiện bị động, cái cớ, cái móc treo chiếc áo tình cảm mà là làm cho cảnh tình hòa quyện, đan lồng vào nhau, cảnh trữ tình như được thổi hồn, càng thêm sinh động, tình cảnh cùng thăng hoa.
Truyện Kiều- Đoạn trường tân thanh- tiếng kêu đứt ruột, toàn tác phẩm chứa đựng nỗi buồn nỗi đau triền miên từ âu lo thân phận, tình yêu tan vỡ, cách trở chia lìa đến những khổ đau khốc liệt đày đọa tan nát cuộc đời, đau tột cùng nỗi khổ đau. Tình nhiều trạng huống do vậy cảnh cũng phải nhiều sắc thái biểu hiện.
Kiều, cô gái khuê các thanh tân, tài sắc vẹn toàn, tâm tư lẽ ra hướng đến tương lai rạng rỡ nhưng không, con người này sớm ray rứt định mệnh, cảm thông thân phận khổ đau nhất là khi viếng mộ ca kĩ tài hoa mệnh bạc Đạm Tiên: Nao nao dòng nước uốn quanh- Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang- Sè sè nấm đất bên đường- Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Tính chất sự vật được tình hóa, nao nao, dàu dàu, nửa vàng nửa xanh, khi gợi nỗi xốn xang tâm khảm, khi như héo úa, ủ ê. Hình ảnh Sè sè nấm đất bên đàng càng gợi nỗi tang thương, thân phận tàn tạ mỏi mòn trong dòng đời vô tâm. Nô nức yến oanh, Ngựa xe như nước áo quần như nêm, không gian ngày hội Thanh minh càng rộn ràng bao nhiêu thì cuối cùng càng lẻ loi, đơn độc, lạnh lùng bấy nhiêu. Cảnh tươi xinh Cỏ non xanh tận chân trời của ngày xuân kia không còn mà ở đây, chỉ trong một buổi- sau khi thăm mộ Đạm Tiên- cỏ cây trở nên vàng võ héo úa: Một vùng cỏ áy bóng tà- Gió hiu hiu thổi một vài bông lau. Từ một tâm hồn còn vô tư trong sáng đến đồng cảm với thân phận bi thương của một kiếp người, tình biến đổi nên cảnh cũng biến đổi theo, tình cảnh hô ứng, hòa hợp, không gian biến hiện để cực tả từng trạng huống tâm tư. Nguyễn Du còn dùng thủ pháp hư thực tương sinh (hư thục sinh nhau) phóng bút về cảnh âm hồn linh hiển- bóng ma Đạm Tiên: Ào ào đổ lộc rung cây- Ở trong dường có hương bay ít nhiều- Đè chừng ngọn gió lần theo- Dấu giày từng bước in rêu rành rành. Cảnh ma mị trong buổi chiều tà, vượt xa nỗi buồn là nỗi đau, bóng ma định mệnh hiện lên ám ảnh cuộc đời Kiều.
Ở con người Kiều, nỗi buồn như toát ra tự nhiên, thường trực, định hình: Nét buồn như cúc điệu gầy như mai. Khi người khác đang hồn nhiên với giấc xuân thì Kiều một mình một bóng thao thức nỗi niềm suốt canh tàn: Hiên tà gác bóng chênh chênh- Nỗi riêng riêng trạnh tấc riêng một mình. Gia biến khốc liệt đẩy vào thế bán mình, bị dẫn vào đất khách: Đùng đùng gió giục mây vần- Một xe trong cõi hồng trần như bay. Đang Êm đềm trướng rủ màn che là thế mà bây giờ tai ương giáng họa, đất trời quay cuồng chao đảo, thân phận con người bị chuyến xe định mệnh khốc liệt cuốn đi, không còn nơi bám víu. Cô thân nơi đất khách quê người, nỗi buồn bao trùm tất cả: Nàng thì dặm khách xa xăm- bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây- Vi lô san sát hơi may- Một trời thu để riêng ai một người. Nỗi buồn lan tỏa trong hơi lạnh, tối tăm vũ trụ, riêng mình, dưới bầu trời, nàng ôm trọn cả niềm đau.
Sau những sóng gió nghiệt ngã vùi dập tới mức phải tự tử, được đưa ra ở lầu Ngưng Bích, nỗi buồn phát tỏa vào từng cảnh vật rồi dội lại tâm can, cho nàng chiêm nghiệm và thấm thía nỗi đau thân phận: Buồn trông cửa bể chiều hôm- Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa- Buồn trông ngọn nước mới sa- Hoa trôi man mác biết là về đâu- Buồn trông nội cỏ dàu dàu- Chân mây mặt đất một màu xanh xanh- Buồn trông gió cuốn mặt duềnh- Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Nỗi buồn tái diễn như điệp khúc, nàng liên tưởng cảnh biển khơi mênh mông sóng gió, liên tưởng thân phận nhỏ nhoi trong khoảng vô định, mong manh trôi dạt- ở đây Nguyễn Du làm mới thành ngữ bèo dạt mây trôi thành hoa trôi- tất cả đều mỏng manh yếu đuối, dễ bị vùi dập, nỗi buồn lan tỏa, ngút ngàn. Và rồi, nỗi buồn đau lặng lẽ gậm nhấm đó đã phải chịu đựng thêm những đợt sóng hiện thực dữ dội, báo động đớn đau chưa dứt- nàng bị lừa, bị ép và rồi phải chấp nhận tiếp khách làng chơi. Đoạn tả là những câu tuyệt bút, sự quyện hòa hô ứng nhuần nhuyễn giữa cảnh và tình.
Rơi vào lầu xanh, rơi vào cảnh đớn đau vùng cực, bị nỗi buồn bủa vây, Thúy Kiều bị giam hãm trong nỗi buồn đau khôn xiết: Song sa vò võ phương trời- Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng- Lần lần thỏ bạc ác vàng- Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn . Nơi phòng khuê (song sa) kia chính là phòng chờ các biến cố, chốn tù ngục giam hãm thân phận, cô lập làm héo mòn cuộc đời nàng. Cuộc sống héo hắt dần dà trôi, tác giả khéo đảo ngữ hoàng hôn hôn hoàng tạo ấn tượng xoay chuyển trùng lặp về khung cảnh và thời gian, hai chữ lần lần trước hình ảnh thỏ bạc ác vàng tạo liên tưởng dịch chuyển lầm lũi của tháng ngày, nỗi đau lặp đi lặp lại miên trường.
Mười lăm năm luân lạc là chuỗi buồn đau, hòa cùng nỗi đau thân phận là những nhớ thương mòn mõi, chia li tan vỡ, tuyệt vọng dậy lên thành những đợt sóng đau thương.
Thuở Kim Kiều tương tư, hai nhà chỉ cách nhau một khoảng tường hoa, thế nhưng buổi ban đầu hẹn hò như đã có điềm báo trắc trở: Sông Tương một dãi nông sờ- Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia. Tác giả mượn ý trong bài Trường tương tư của Lương Ý Nương: Quân (Ngã) tại Tương giang đầu- Thiếp (Quân) tại Tương giang vĩ- Tương tư bất tương kiến- Đồng ẩm Tương giang thủy (Chàng ở đầu sông Tương- Thiếp ở cuối sông Tương- Nhớ nhau không gặp mặt- Cùng uống nước sông Tương). Câu thơ tả cảnh lưu luyến mong chờ của tình yêu ban đầu lại đậm dấu ấn của những lời thơ chia biệt cách ngăn. Có thể đây là yếu tố phục sẵn trong kết cấu, dấu hiệu báo trước cho những nỗi niềm li biệt về sau.
Nhớ Kim Trọng, ngươi đã từng hò hẹn thề nguyền, cũng một vầng trăng, xưa vằng vặc giữa trời- Đinh ninh hai miệng một lời song song còn nay Thấy trăng mà thẹn những lời non sông. Trăng xưa xum họp, hòa hợp, trăng nay cách trở chia li. Một vầng trăng hai tâm trạng, trăng xưa sáng sủa rạng ngời còn nay như chỉ hé thoáng qua, tình duyên lỡ làng nên nàng không dám đối diện bóng trăng. Đối chiếu hai hoàn cảnh mới thấy hết nỗi bi thiết tội tình. Vầng trăng đó luôn đi theo nàng, lúc ở lầu Ngưng Bích, Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung. Dù tan vỡ nhưng tình yêu nỗi nhớ luôn canh cánh bên lòng: Tưởng người dưới nguyệt chén đồng- Tin sương sớm những rày trông mai chờ. Bên trời góc biển bơ vơ- Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Càng thương chàng mỏi mòn chờ đợi càng tủi phận mình, tấm thân ô uế, lạc loài đơn độc.
Hết nạn nọ đến nạn kia, nỗi đau đời Kiều ngày thêm chất chứa. Từ phẫn nộ với phản ứng tự sát đến chỗ phó mặc để rồi mỏi mòn chua xót và cuối cùng là tuyệt vọng cùng cực dẫn đến tự vận.
Dấu hiệu buồn đau thê lương cùng cực đầu tiên là lúc giao kỉ vật để nhờ Thúy Vân nối duyên cùng Kim Trọng. Tan vỡ tình đầu nàng như đã chết, Kiều dặn Thuý Vân như lời trối trăng: Mai sau dù có bao giờ- Đốt lò hương ấy so tơ phím này- Trông ra ngọn cỏ lá cây- Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Nỗi đau tình hóa thân vào cỏ lá, cụm từ hiu hiu gió đầy ma lực cực tả nỗi bi thương yếu đuối, vương vất của một linh hồn nhỏ nhoi cô quạnh. Và thực, sau đó là Cạn lời, hồn ngất, máu say- Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng.
Bi cảnh cùng cực cao độ nhất là lúc bị Hồ Tôn Hiến ép gả cho Thổ quan. Bao đày đọa, bao khổ đau nhục nhã nàng đều nhẫn nhục chịu đựng, tuyệt vọng nhưng cố sống nhưng đến nỗi đau cùng cực này, nghĩ rằng Giết chồng mà lại lấy chồng- Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời, nàng quyết chí quyên sinh.
Suy nghĩ, xâu chuỗi lại những biến cố cuộc đời, Kiều đã mơ hồ nghĩ đến cái chết: Đành thân cát dập, sóng vùi… Chân trời, mặt bể, lênh đênh- Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào? Trước đây, khi bị Tú bà ép tiếp khách làng chơi, nàng phẫn uất tìm đến cái chết còn bây giờ, nàng suy nghĩ về cái chết, chấp nhận cái chết bơ vơ giữa mênh mông vô định. Đêm đã tàn: Mảnh trăng đã gác non đoài nàng vẫn Một mình luống những đứng ngồi chưa xong. Thâu đêm suy nghĩ chứng tỏ nàng chuẩn bị tinh thần đầy đủ và xốn xang chờ giây phút cuối cùng. Đến khi nghe Triều đâu nổi sóng đùng đùng. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường, nàng liền đi đến quyết định. Âm thanh đùng đùng biến đổi trạng thái, chuyển từ im ắng sang rúng động dữ dội, từ trăn trở thao thức đến hành động, đẩy trạng huống tinh thần đến đỉnh điểm đúng ngay địa chỉ sông Tiền Đường, con sông định mệnh mà hồn ma Đạm Tiên đã từng báo mộng: Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau đã hiện hữu. Định mệnh đã đến, Đạm Tiên hô, Thúy Kiều ứng: Đạm Tiên, nàng nhé có hay? Hẹn ta, thì đợi dưới này rước ta. Và một quyết định dữ dội nhất từ cùng tột khổ đau: Thôi thì một thác cho rồi- Tấm lòng phó thác trên trời dưới sông- Trông vời con nước mênh mông- Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang.
Bao buồn khổ, đớn đau, oan khuất, nhục nhã, tuyệt vọng gói trọn trong một kiếp người tài hoa mệnh bạc, tất thảy gieo thả vào không gian mịt mù vô định.
2-7-26




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét