MỤC LỤC BLOG

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2023

Thử nêu GIẢ THUYẾT VỀ SỰ HÌNH THÀNH LÀNG PHÚ LIÊU (thuộc xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)

NGUYỄN VĂN HÙNG 

ảnh internet

1. Vấn  đề  cần giải  quyết:

- Làng  hình thành  từ bao  giờ, vào  triều  đại  nào? Những  biến đổi  về tên  làng.

-  Ai  là tổ  khai khẩn, có  tổ khai  canh không? Các  họ  cùng  khai  khẩn một lúc hay   chia  ra từng giai  đoạn. Quan hệ   giữa  các họ khai khẩn và các họ đang  tồn  tại  hiện nay.

2. Đánh giá những chứng  tích, văn bản, bi kí, truyền thoại làm   sở.

- Mộ làng: Mộ  đất không  bia, bia  dựng về  sau  này (1991), thông tin sơ lược. Có 1 bia mộ  ghi tiền khai khẩn, 1 bia mộ  ghi hậu khai canh, 6 bia mộ ghi kế hậu khai canh. Căn  cứ  chính.

- Nghè làng: Có miếu thờ,  ghi các họ khai khẩn, câu  đối, hoành phi. Căn  cứ  chính.

- Văn  bia dựng tại  chùa làng  ghi  sắc phong thời vua  Khải  Định   cho  4  họ (vị) khai  khẩn. Căn  cứ  chính yếu và đáng tin cậy nhất.

- Phủ  ý  các  họ  tộc Nguyễn Đức có  đề cập  đến họ Dương (họ khai khẩn); phủ ý  họ  Nguyễn Quang có  đề  cập  đến biến  đổi tên làng, tên  họ; họ Nguyễn Văn và Nguyễn Đình  không  còn phủ ý.

- Các tài liệu lịch  sử:  Theo Quốc  sử  quán  triều  Nguyễn thì  làng   được thành lập từ thời  Lê. Ô châu cận lục  của Dương Văn An đời  Mạc  cũng có  đề  cập  đến làng. Căn  cứ chính.

 Một  căn cứ tham khảo  nữa là  lịch  sử thành lập  làng Bích La kế  cận: Năm 1527 (Mạc Đăng Dung lên ngôi), 14 hộ dân theo phó tướng triều Mạc Lê Mậu Doãn (Doãn Lộc hầu) thành lập làng Bích La.

- Các truyền thoại về  làng  là những  câu chuyện nhuốm màu  lịch  sử nhưng còn thiếu  căn cứ, lắm khi chồng  chéo, mâu thuẫn.

+ Tổ  tiên  làng   di    từ Thanh Nghệ Tĩnh  vào bằng  đường  biển, đến Vân Huề (Triệu Vân) thì  phân tán, một  số tới vùng  đất làng  hiện nay và thành lập làng.

+ Làng  được thành  lập  từ thời các chúa Nguyễn (từ khi Nguyễn Hoàng vào  trấn giữ).

+ Lúc  đầu, làng   do một    quan họ Trần tên Trần Trọng thành  lập. Đến đời chúa Nguyễn,  chúa  giao cho  một  văn  quan họ Nguyễn  tên Nguyễn Phục  thành lập. Văn  quan  họ Nguyễn  quy tụ  một  số thuộc  cấp   có họ khác nhau  rồi cho  đổi  thành họ Nguyễn (Nguyễn Quang, Nguyễn Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình). Họ Nguyễn Hữu  tách ra  từ  họ Nguyễn Quang.

+ Có  suy  đoán rằng  từ  họ Nguyễn khai khẩn (Nguyễn Phục) chia làm 4  họ Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình. Con  cháu  4  họ   đó trong làng hiện nay    con cháu cụ Nguyễn Phục.

+ Trong  4  họ khai khẩn  làng, ba  họ Trần, Dương, Phan  không   còn, chỉ  họ Nguyễn  nối truyền  con cháu  đến ngày nay.

+ Làng  từng  có tên Phú Xuân, sau  vì kị húy (trùng tên với kinh thành Phú Xuân) nên  đổi thành Phú Liêu (có  ghi trong lời Tựa phủ ý họ Nguyễn Quang- 1937).

+ Tên  của  bốn  vị khai khẩn  tuần tự là: Trần Trọng, Nguyễn Phục, Dương Phẩm, Phan Long. Tên  của  các vị  tổ họ là Nguyễn Đức  Thưởng, Nguyễn (Quang) Thiệu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đình Quý Công (không    tên  nên  gọi là   quý  công (quý ông).

Tin rằng các  truyền thoại trên không phải   bịa  đặt    do tam sao thất bổn hoặc  suy  đoán thiếu  căn cứ,  cần  chọn lọc, phục  chính lại. Đây cũng  là căn cứ chính để   xem  xét.

3. Dựa   vào những  căn cứ chính, lấy  đó làm    sở, những  điều  sau  đây  cần  được thừa nhận:

- Làng   được thành  lập  từ thời  nhà Lê (theo  Quốc  sử  quán triều   Nguyễn) tức  trước  1527 (Lê Cung Hoàng  nhường ngôi  cho Mạc Đăng Dung). Trong Ô châu cận lục  của Dương Văn An (1555) đã  ghi tên làng là Trúc Liêu  thuộc tổng An Cư, huyện Đăng Xương (Vũ Xương), phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa (Huyện    Xương, phủ Triệu Phong đã có từ thời Lê- năm  1469 Lê Thánh Tông  đã  đổi tên huyện Hoa Lăng thành huyện Vũ (Võ) Xương thuộc phủ Triệu Phong). Có thành  lập thì  đương nhiên có khai  khẩn, làng  được thành lập triều Lê  thì vị khai khẩn  đầu  tiên phải ở vào  triều Lê. Ngài  Trần Trọng là  vị  đứng  đầu trong  các vị khai khẩn (và  có thể  có thêm các vị  khai khẩn khác)  phải  ở vào thời  đó.

- Làng   do  4 vị (họ) Trần, Nguyễn, Dương Phan khai khẩn còn ghi    trong miếu  thờ. Đời Khải Định  tam niên (1918) đã  sắc  phong thần cho  bốn  vị: Sắc Khai Khẩn Trần Đại Lang, (Nguyễn Đại Lang, Dương Đại  Lang, Phan  Đại  Lang) Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng  Linh Phù Tôn Thần (Tước phong vị thần có công "che chở, giúp đỡ vương triều lúc trung hưng và linh thiêng phù hộ cho nhân dân". Tên của  bốn vị là Trần Trọng, Nguyễn Phục (4), Dương Phẩm, Phan  Long.

              - Làng  có 4 họ chính là Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình (các  họ Nguyễn Đăng, Phạm, Nghiêm, Trương, Nguyễn gia nhập vào  làng   về  sau này). Người  giữa  4 họ  có thể hôn thú  với nhau chứng tỏ  các họ không  cùng huyết tộc thân thuộc. Từ  đó có thể  suy ra  rằng người trong 4  họ trên không phải    con cháu của  họ Nguyễn  được thờ làm khai khẩn. Nếu  họ cùng là  con cháu  họ Nguyễn khai khẩn thì  sẽ phạm  vào loạn luân. Nếu có việc “chia họ để  hôn thú” này thì sao “sự  biến” lớn như vậy lại không  được lưu truyền. Đó là  điều  không thể. Như vậy họ Nguyễn đứng tên khai khẩn không  còn con cháu ở làng.

              - Bốn  họ  trong  làng không phải anh   em cùng họ chia ra, là  4  họ  độc lập, bình  đẳng, không  có họ trên họ  dưới, họ  anh  họ  em.

              - Bốn  họ Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình (các vị  tổ họ là Nguyễn Đức  Thưởng, Nguyễn (Quang) Thiệu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đình… không phải    bốn họ khai khẩn, không thờ ở nghè làng mà có  nhà thờ  họ  riêng. Đây    4  họ tới  canh tác xây  dựng  làng về  sau (tới canh tác  sau khi làng hình thành, đã  được các họ  khác khai  khẩn). Xưa nay làng chỉ  truyền tụng  và thờ phụng 4 họ khai khẩn (Cả trong các mộ  tổ làng, 1 mộ  ghi tiền khai khẩn, 1 mộ  ghi hậu khai canh, 6 mộ ghi kế hậu khai canh- theo bia dựng 1991) không  nói  đến các tổ  họ là  khai  canh (xem thêm chú thích (5))            

4. Vấn đề tồn nghi cần  được  xác minh làm rõ:

Làng chỉ  có khai khẩn hay có  cả khai canh? Trong  sắc phong ghi ở bia dựng trong khuôn  viên chùa năm 1918 chỉ ghi 4 vị khai khẩn còn  trong bia các mộ tổ làng  dựng năm 1991 thì ghi Tiền khai khẩn (mộ bia ở Học  Xá), Hậu khai canh  (mộ bia ở góc Cồn Hàn), Kế hậu khai canh ở 6  bia  mộ  còn lại. Như vậy phải chăng  làng có  cả khai khẩn lẫn khai  canh theo mô thức Tiền khai khẩn - hậu khai canh? Sắc phong trong bia dựng ở chùa làng là tài liệu chính  xác nhất vì xuất hiện sớm (1918), được nhà nước phong kiến chính thức  thừa nhận và vua Khải Định ban sắc phong phải là căn cứ  chính yếu. Việc ghi trên bia mộ làng là tiền khai khẩn, hậu khai canh, kế hậu khai canh căn  cứ vào đâu,  dựa trên cơ  sở, tài liệu nào? Tại  sao không  dựa vào bia dựng ở chùa? Sự khác  biệt này phải chăng  do việc ghi trên bia  mộ làng  năm 1991 thiếu căn cứ hoặc trước  đây có   cả khai khẩn lẫn khai canh nhưng khi  đề nghị  ban sắc phong thì chỉ  ghi khai khẩn, nếu  có thì chứng lí  đâu? Sự kiện dựng và ghi trên bia làng  diễn ra  năm 1991, nhiều người tham gia vào việc hệ  trọng này vẫn  còn sống, cần  xác minh làm rõ, nếu không thì vấn  đề tồn nghi  này  sẽ kéo dài  đến muôn  đời. (1)

5. GIẢ THUYẾT  THÀNH  LẬP LÀNG (nêu 2026)

Làng  được thành  lập  từ thời  nhà Lê do ngài  Trần Trọng và quý ngài Dương Phẩm, Phan  Long đứng tên khai khẩn (Tiền khai khẩn). Qua thời  Mạc, thời  Lê Trịnh có thể   do không  đủ  số dân đinh khai phá, bỏ hoang nhiều  đất  đai nên  các chúa Nguyễn đã  cho tái  khai khẩn làng và  đổi  tên  từ Trúc Liêu thành Phú Liêu. Các  họ tộc Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình đến  sau (khoảng đầu thời các chúa Nguyễn)  đã đồng lòng tôn một  vị  danh nhân  được các nơi  thuộc  vùng  duyên hải miền Trung thờ như thần nhân hiển linh  là Nguyễn Phục (4)  làm  khai khẩn (Hậu khai khẩn).

----------------------------

CÁC  GIẢ THUYẾT  TRƯỚC ĐÂY (để tham khảo)

Giả thuyết thành  lập (nêu 2023):

Làng  được thành  lập  từ thời  nhà Lê do ngài  Trần Trọng và  các ngài Dương Phẩm, Phan  Long đứng tên khai khẩn (Tiền khai khẩn). Qua thời  Mạc, thời  Lê Trịnh có thể   do không  đủ  số dân đinh khai phá, bỏ hoang nhiều  đất  đai nên  các chúa Nguyễn đã  cho tái  lập và  đổi  tên  từ Trúc Liêu thành Phú Liêu, giao ngài Nguyễn Phục đứng tên khai khẩn tiếp (Hậu khai khẩn)(2). Sở    đặt vấn  đề thiếu  dân đinh    đây vì ba họ  khai khẩn là Trần, Phan, Dương từ  xa  xưa đã  không  con cháu sinh  sống ở làng, họ Dương  cũng chỉ  truyền  đến ngang   đời thứ  5 của  họ Nguyễn Đức, chứng  tỏ cư  dân của  thế hệ khai khẩn  trước quá ít ỏi, đất  đai  hoang hóa. Ngài  Nguyễn Phục với  danh nghĩa khai khẩn đã  quy tụ  các thuộc  cấp của những  họ khác nhau là Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình  tiếp  tục vỡ hoang (3) và phát triển  làng.

Giả thuyết  bổ   sung về Hậu khai khẩn (nêu 2026): Các  họ tộc Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình đến  sau (khoảng đầu thời các chúa Nguyễn)  đã đồng lòng tôn một  vị   danh nhân  được các nơi  thuộc  vùng  duyên hải miền Trung thờ như thần nhân hiển linh  là Nguyễn Phục (4)  làm  khai khẩn (Hậu khai khẩn).

Hai  câu đối ở  miếu thờ Nguyễn Phan phải chăng hàm ý  điều này:

  - LINH PHÙ MÔNG  ĐẾ  QUYẾN  Anh linh  phù hộ độ trì, được ơn trên (Thượng  đế/Hoàng đế) thương tưởng, đoái hoài mãi mãi.

   -  CÔNG  CAO TỤ TỘC THÀNH  (Công lao to lớn trong việc quy tụ dân cư, giúp các dòng tộc được hình thành và phát triển vững mạnh)

-------------------------------------------

Chú thích:

(1) Khai khẩn hay  khai canh làng   đều là người  đầu  tiên khai phá thành lập làng theo  các  giai  đoạn. Tuy vậy, danh  xưng khai khẩn  có thể dùng để tôn xưng  đối với những người  có công trạng lớn với  làng về  sau.

Trước  đây, mộ  họ mộ phái đa phần  đều  được  dựng bia  vì người ta biết  rõ, còn  mộ  làng   8 ngôi đều không có  bia, chỉ  gọi là mả  làng, không phải  vì làng  không  đủ tài lực mà  vì các cụ xưa thận  trọng, không  biết  rõ tên hiệu, thế thứ, tôn xưng, danh  vị nên không  dám tùy  tiện dựng  bia. Nay (1991) các vị  căn cứ vào  đâu  để  dựng  bia truyền  đời?

(2) Hiện tượng nhiều  đời khai khẩn (Tiền khai khẩn - Hậu khai khẩn) cũng phổ  biến, thậm chí có nơi những người    công  đức lớn  trong  việc   xây  dựng làng  xã về sau  có khi cũng  được tôn làm khai khẩn, do đó mới có hiện tượng khai  khẩn  trước và khai khẩn  sau (Tiền- hậu  khai khẩn).

(3) Quan niệm Tiền khai  canh hậu khai khẩn phổ  biến ở nhiều làng     hơn    quan niệm Tiền khai khẩn hậu khai canh. Trong  sắc phong thời trước, ở những  làng  có cả  khai khẩn và khai  canh thì thường  đặt khai  canh  trước khai khẩn. Làng chỉ  có các tôn xưng khai khẩn khi đề nghị vua  sắc phong cho  4  vị  tổ làng, điều này nhất  quán  với quan niệm Tiền  khai khẩn - Hậu khai khẩn.

(4) Phải chăng  đây là ngài Nguyễn Phục được  thờ  ở nghè Làng?

NGUYỄN PHỤC- TIỂU  SỬ THEO AI

Nguyễn Phục không phải là quan văn của thời chúa Nguyễn (Đàng Trong) mà ông thực chất là một danh thần, quan văn chính trực thời Lê sơ dưới triều vua Lê Thánh Tông. Sự nhầm lẫn này thường xuất phát từ việc ông được thờ phụng rất rộng rãi tại miền Trung và miền Nam (vùng đất do các chúa Nguyễn khai phá) và được các triều đại chúa Nguyễn, nhà Nguyễn sau này liên tục truy phong sắc thần.

Thân thế và Sự nghiệp thời Lê Sơ

Nguồn gốc: Nguyễn Phục (còn gọi là Phục Công, hiệu Tùng Giang tiên sinh) quê ở làng Đoàn Tùng, huyện Gia Phúc (nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Học vị: Ông đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ đệ tam danh) năm 1453 dưới triều vua Lê Nhân Tông. Chức vụ: Ông từng giữ các chức vụ quan trọng như Chưởng viện Viện Hàn lâm, Sư phó (thầy dạy học của vua Lê Thánh Tông khi chưa lên ngôi) và Đại lý tự khanh. Năm 1470, khi vua Lê Thánh Tông thân chinh đi bình Chiêm Thành, Nguyễn Phục được giao nhiệm vụ Đốc vận quân lương. Khi qua cửa biển Tư Hiền (Thừa Thiên Huế), thuyền chở lương gặp bão lớn dữ dội. Để bảo toàn tính mạng cho binh sĩ và quân nhu, ông ra lệnh neo đậu chờ bão tan khiến quân lương đến trễ so với kỳ hạn. Do kỷ luật quân đội nghiêm khắc thời chiến, ông bị khép vào tội chết. Ngay sau khi lệnh chém được thi hành, vua Lê Thánh Tông hối hận phái người đem chiếu tha tội đến nhưng không kịp.

Sự hiển linh và Sự tôn kính của thời chúa Nguyễn - nhà Nguyễn.

Sau khi mất, sự chính trực và linh thiêng của ông được người dân dọc theo các cửa biển miền Trung tôn kính phụng thờ. Tước hiệu: Ông được phong là Phi Vận tướng quân hoặc Đông Hải Đại Vương. Thờ tự tại Đàng Trong: Khi người dân xuôi Nam khai hoang lập ấp dưới thời các chúa Nguyễn, tín ngưỡng thờ Nguyễn Phục đã theo dấu chân di dân bén rễ sâu sắc tại vùng đất mới. Các làng mạc Đàng Trong như Dương Xuân (Huế), Hội An (Quảng Nam), Đà Nẵng, cho đến các ngôi đình tại Nam Bộ đều lập miếu thờ ông làm Thành hoàng bổn cảnh để cầu mong sóng yên biển lặng. Sắc phong của triều Nguyễn: Nhận thấy tầm ảnh hưởng lớn của ông đối với tâm linh vùng biển duyên hải, các vua nhà Nguyễn sau này (như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) đã liên tục ban cấp sắc phong gia tặng mỹ hiệu cho ông để khẳng định sự chính thống.

(5) - Khai  khẩn: Là người đầu tiên có công chiêu mộ lưu dân, phát hoang bụi rậm, biến đất hoang thành ruộng đồng để lập nên làng xóm. Do  đứng  đầu bảng phong khai khẩn, theo văn hóa miền Trung, ngài Trần Trọng được tôn kính là bậc Tiền hiền khai khẩn

      Đại lang ở  đây được hiểu là người con trai cả hoặc ông lớn (người đức cao  trọng vọng).

 

NGUYỄN VĂN HÙNG

30-4-23- Chỉnh  sửa ngày 11 - 8 - 2023 (Sau khi thăm và  xem bia  mộ  làng)

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

PHỤ LỤC : 

1. CÂU  ĐỐI, HOÀNH PHI  NGHÈ  LÀNG PHÚ LIÊU

- Cổng ngoài  thứ nhất:

*       (?)   - Vạn thế  sở (nơi, chỗ)  do (ở, tại) chiêm ngưỡng- (Muôn  đời  sẽ chiêm ngưỡng (hướng  vọng và tôn kính) nơi  đây)

                       - Nhị khí  vị (giúp cho) chi (đã) vãng  lai- (Hai luồng khí Âm và Dương không ngừng qua lại, chuyển hóa lẫn nhau mà tạo nên vẹn toàn sự sống và vũ trụ)

- Cổng  2- Hai  câu  giữa:

* - Nhật nguyệt  tường quang tài phổ chiếu- (Ánh  sáng  lành  của mặt  trời  mặt trăng  cùng chiếu soi  rộng khắp)

  (?) - Càn  khôn thụy (tốt lành) khí cộng chung (hợp lại)  linh-  (Khí  tốt  lành của   trời  đất  hợp lại linh thiêng, hun  đúc nên nhân tài)

* - Tứ  gia công  đức đồng  thiên  địa- (Bốn nhà  công   đức (còn mãi) cùng  trời  đất)

  - Song miếu  anh linh  tự  cổ kim- (Hai miếu anh linh  tự  xưa nay)

- Các chữ  triện  trong hai miếu: 

 - Miếu bên tả (ngoài  vào, đọc từ phải sang trái): TRẦN  DƯƠNG

 - Miếu  bên hữu (ngoài vào, đọc từ trái sang  phải: NGUYỄN PHAN

- Ở miếu Thành Hoàng:

*              (?)    - ANH LINH  BẰNG NHẠC ĐỘC (Anh linh dựa  vào núi  cao lạch  sâu- Sự linh thiêng và hiển hách của vị Thần được tụ hội, minh chứng từ linh khí của núi cao sông dài. Khẳng định uy lực có gốc từ Địa linh hội tụ (Sự linh thiêng của Thần được nuôi dưỡng, minh chứng bằng chính long mạch, sinh khí sông núi của vùng đất mà Ngài đang trấn giữ).

        (?)             - TRÌ  HỘ TÚC GIANG   SƠN- (Hộ  trì đủ  đầy (khắp) núi sông)

- Miếu khai khẩn bên tả (trong nhìn ra): 光 於 - QUANG Ư  TIỀN-  Rạng  rỡ  đời  trước, Trước  thì  sáng  sủa  rực rỡ- Xưng tụng những người có công  đầu  khai hoang lập ấp)

  - LINH PHÙ MÔNG  ĐẾ  QUYẾN  Anh linh phù hộ độ trì, được ơn trên (Thượng  đế/Hoàng đế) thương tưởng, đoái hoài  mãi mãi.

   -  CÔNG  CAO TỤ TỘC THÀNH  (Công lao to lớn trong việc quy tụ dân cư, giúp các dòng tộc được hình thành và phát triển vững mạnh)

- Miếu khai khẩn bên hữu (trong nhìn ra):       開 必 - KHAI TẤT  TIÊN (Mở mang, khai phá, việc  gì cũng  đều phải  có người đi trước làm nền móng. Xưng tụng  lớp  người đi trước mở mang)

- NHẬM TỊCH  KHAI  TIÊN BỘ    (Đi  trước  đảm nhận  việc khai phá)

- THỐN THẢO HẠ (hà) HỒNG ÂN   (Tấc lòng nhỏ bé, thảo kính của người con/bề dưới xin được nghiêng mình nhận hoặc đền đáp ơn huệ to lớn như trời biển).

(?) Những   dấu ? trong ngoặc (?) lưu ý  đến  sự khác biệt trong Làng Phú Liêu qua tài liệu và  sách báo xưa nay..

2- VĂN BIA  DỰNG  Ở CHÙA LÀNG

唘 定三 年仲秋- Khải Định Tam Niên Trọng Thu (Khải Định năm thứ  3 (1918), tháng  8)

勑 開 墾 陳 大 郎 爵(?)封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Trần Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần

勑 開 墾 阮 大 郎 爵(?) 封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Nguyễn Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần.

勑 開 墾 揚 大 郎 爵(?)封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Dương Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần.

勑 開 墾 潘 大 郎 爵(?)封 翊 保 中 興 𩄇 扶 尊 神 - Sắc Khai Khẩn Phan Đại Lang Tước Phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần.

(Sắc ban Khai Khẩn cho ông lớn họ Trần (họ Nguyễn, họ  Dương, họ Phan) tước phong vị thần có công "che chở, giúp đỡ vương triều lúc trung hưng và linh thiêng phù hộ cho nhân dân".(**)

夲 社 拝 誌 - Bổn  xã bái chí (Làng  chúng tôi lạy xin ghi lại)

-------------

 

2 nhận xét:

  1. MỘT SỐ CÂU ĐỐI Ở HỌ NGUYỄN VĂN- PHÚ LIÊU
    Câu đối trụ cổng:
    1. TỔ ĐỨC LƯU PHƯƠNG THIÊN CỔ THỊNH
    TÔN HIỀN KẾ THẾ VẠN NIÊN VINH
    2. BẢN CỔ CHI VINH DUY TẠ TỔ TIÊN ĐỨC (Sự vinh hiển của gốc rễ lâu đời (gốc vũng cành tươi) hoàn toàn nhờ vào phúc đức của tổ tiên)
    THỦY NGUYÊN LƯU VIỄN THỦY TƯ TỬ TÔN HIỀN
    (Nguồn nước (lẽ ra dùng Nguyên thâm) chảy xa, uống nước nhớ nguồn, mong con cháu hiền tài).
    Trong nhà thờ:
    1. SÁNG NGHIỆP THÙY THÔNG (THỐNG?) CÔNG ĐỨC ĐẠI (Gầy dựng cơ nghiệp, truyền lại dòng họ, công đức tổ tiên thật to lớn)
    TÍCH THỤ KIM BA ÂN NGHĨA THÂM (Cây xưa tích đức nay nở hoa phú quý, ơn nghĩa của tổ tiên thật sâu dày)
    2. MỘC BỔN THÙY NGUYÊN THIÊN CỔ NIỆM (Cây có cội nước có nguồn, ngàn năm luôn ghi nhớ)
    THIÊN KINH ĐỊA NGHĨA BÁCH NIÊN TÂM (Đạo lí trời, nghĩa lí đất, trăm năm giữ trọn lòng)
    3. TIÊN TỔ VĨNH THỪA (THÙY?) ĐỨC ĐẠI ĐỒNG THIÊN ĐỊA
    HẬU DUỆ KẾ NGHIỆP TÂM THÀNH NIỆM CÀN KHÔN (khắc ghi công ơn bao la như vũ trụ)

    4. (Chỉ đọc được một số chữ trong ảnh rồi suy ra, không bảo đảm chính xác)
    PHÚ ĐỊA CỐ HỒNG ĐỒ TỔ ĐỨC TRUYỀN VẠN ĐẠI (Đất phú vững cơ nghiệp lớn Đức tổ truyền muôn đời sau)
    NHÂN KIỆT KHAI TÂN VẬN, TÔN HIỀN ĐÁO THIÊN THU (Người tài mở ra vận hội mới, cháu hiền đạt tới nghìn năm sau.
    Hoặc: CÁT GIA DIÊN PHÚC LỘC, TÔN TỬ THỊNH THIÊN THU. Nhà tốt kéo dài phúc lộc, con cháu thịnh vượng đến nghìn năm.

    Trả lờiXóa
  2. Làng Phú Liêu:
    TRUYỀN THOẠI về bà vợ ông Nguyễn Hữu Thận (Thượng thư bộ Hộ- quan lo hậu cần (cấp phát tiền gạo ch việc đào sông) nắn dòng sông Vĩnh Định.
    Tôi rất xin lỗi và cần phải thẳng thắn nhận lỗi với bạn một lần nữa: Thông tin về việc "vợ chính thất của ông Nguyễn Hữu Thận là người làng Phú Liêu" là một sự nhầm lẫn nghiêm trọng trong việc ghép nối dữ liệu nhân vật lịch sử của tôi, chứ không có trong bất kỳ tài liệu chính sử hay gia phả chính thống nào của dòng họ.
    Theo các tài liệu lịch sử đáng tin cậy về Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận: Gia thế: Ông là con trai của cụ Nguyễn Phú Điêu (làm chức Huấn đạo). Dòng họ của ông ban đầu mang họ Nguyễn Phú, sau này con cháu mới đổi thành họ Nguyễn Hữu. Quê quán của ông: Làng Đại Hòa (nay thuộc xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
    Về người vợ của ông: Các sách tiểu sử chính thức như Đại Nam chính biên liệt truyện hay hồ sơ di tích về ông chỉ ghi nhận sự nghiệp thiên văn, toán học và hoạn lộ của ông qua hai triều đại Tây Sơn - nhà Nguyễn, không hề có tư liệu nào khẳng định vợ ông thuộc các chi họ Nguyễn (Nguyễn Đức, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn, hay Nguyễn Đình) tại làng Phú Liêu.
    Việc tôi tự ý đưa ra thông tin "vợ ông họ Nguyễn/họ Lê làng Phú Liêu" ở các câu trả lời trước là hoàn toàn sai sót và không có căn cứ lịch sử. Tôi chân thành xin lỗi vì đã làm mất thời gian tra cứu và có thể gây hiểu lầm cho bạn về tư liệu dòng họ tại địa phương.
    Theo Công nghệ AI (2-8-26)

    Trả lờiXóa