(Liệt kê và chú giải ẩn nghĩa những thành ngữ, tục ngữ về chó)
TIỂU TỬ VĂN
ảnh internet
CHÓ…
-
Chó (khuyển, cẩu, cầy, muông): Tiếng thường dùng để mạt sát kẻ ngu muội, đáng khinh.
Tiếng chửi rủa - Chó chết, chó dại, chó đẻ, chó đểu, chó điên, chó ghẻ, chó má, chó thật… Từ mang tính phủ định: Có chó nào đâu, Chó mà ưa nó, Chó nào nghe nó... Tên gọi dân dã: vện, vàng, khoang, đốm, tên gọi cho lai: mi na, mi nô...
Chó ba khoanh mới nằm, người ba năm mới nói: Lời khuyên cẩn trọng lời nói.
Chó bốn đeo, mèo tam thể: Tướng vật quý.
Chó cảnh (kiểng): Các loại chó Bắc Kinh, chó Nhật... thường nhỏ con, nuôi làm cảnh.
Chó cắn càn: Kẻ xấu liều lĩnh, bất chấp.
Chó cắn áo rách: Đã khốn cùng còn gặp nạn.
Chó chạy trước hươu: Nhanh nhẩu đoảng.
Chó chê mèo lắm lông: Không ra gì mà hay xoi mói, giỏi phê hơn tự kiểm.
Chó cậy gần (ỷ thế) nhà, gà cậy gần (ỷ thế) vườn: Thói cục bộ địa phương.
Chó cò: Chó có bộ lông trắng.
Chó cùng rứt giậu: Cùng đường sinh làm bậy.
Chó dữ mất láng giềng:
Chó Đạo Chích (vua trộm) sủa vua Nghiêu (bực vua thánh thời cổ đại Trung Hoa) (Chích khuyển phệ Nghiêu): Trung thành tuyệt đối với chủ, không cần biết đến người khác hoặc đạo đức.
Chó đâu chó sủa lỗ không, chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày: Mọi việc có lí do, không có lửa sao có khói, có dư luận vì có vấn đề.
Chó đốm lưỡi: Chó có những bớt đen trên lưỡi.
Chó đuôi cờ: Chó có đuôi dựng đứng.
Chó gác cổng âm phủ: (Cerberus) còn được gọi là "chó săn của địa ngục" hay thú cưng của thần Hades, lo canh giữ cổng Âm phủ (của thần Hades), ngăn không cho người chết trốn ra ngoài và không cho người sống bước vào.
Chó ghét đứa gặm xương, mèo thương người hay nhữ: Thói đời thường tranh ăn và thích nịnh.
Chó liền da gà liền xương: Bản năng sinh tồn của các loài này.
Chó ngáp phải ruồi: Bất tài nhưng gặp may.
Chó săn chim mồi: Lũ Ưng Khuyển, bọn tay sai a tòng làm bậy.
Chó đạp lửa: Cuống cuồng hoảng loạn mà chạy.
Chó chạy rông: Kẻ vô công rỗi nghề, lông bông lang bang.
Chó ngao (Mastiff): Chỉ những nhóm chó có kích thước lớn, mạnh, hung dữ, nuôi để bảo vệ tài sản hoặc làm chó nghiệp vụ.
Chó nghe pháo- Chó chạy có cờ: Hoảng hốt rối loạn, hồn bất ngụ thể.
Chó ba khoanh mới nằm, người ba năm mới nói: Cần cẩn trọng trong phát ngôn.
Chó ăn chè: Chế diễu những người say xỉn (Một xị là để tiêu sầu, Hai xị mũi chảy đầy râu, Ba xị gặp đâu ngồi đó, Bốn xị cho chó ăn chè).
Chó sói: Loài chó hoang dã ở rừng thường gọi là sói xám (tên khoa học: Canis lupus), thành viên lớn nhất trong họ chó, tổ tiên loài chó nhà. Chúng sống theo bầy, có tính xã hội cực kỳ cao, nổi tiếng với sự thông minh, lòng trung thành với đàn và tiếng hú vang vọng trong đêm.
Chó sủa ma- Chó sủa trăng: Chửi đổng, báo động vô căn cứ, kết luận hồ đồ.
Chó sủa cứ sủa, đường ta ta cứ đi: Lập trường vững vàng, bất chấp dư luận xấu.
Chó phản chủ: Kẻ phản bội.
Chó tháng bảy: Trai gái rậm rật như vào mùa động cỡn.
Chó treo mèo đậy: Cảnh giác, đề phòng cẩn thận.
Chó cán xe, xe cán chó: Mục chuyện tạp nham tào lao xích đế trên báo chí.
Chó trộm (Tích): Mạnh Thường Quân bị giam lỏng ở Tần, trong đám hạ khách có kẻ giả làm chó vào kho vua Tần ăn trộm áo lông chồn để Mạnh Thường Quân tặng cho thiếp yêu của vua Tần là Ái Cơ nhờ cho xin về Tề.
...CHÓ…
Cãi nhau như chó với mèo: Tranh cãi gây xung đột, không thể hóa giải.
Cậu chó: Kẻ
dâm đãng.
Cháo chó: Chuyện nhỏ nhặt thông thường. Rau heo cháo chó (thành ngữ)
Chọc chó chó liếm mặt: Đùa giỡn dễ bị kẻ dưới khinh lờn.
Chui (Lòn) lỗ chó: Làm cái việc hèn hạ nhục nhã.
Chuồng chó: Nơi chó thả rông bị bắt đưa về nhốt, có từ thời Pháp thuộc. Nhiều nơi trở thành địa danh: Chợ Chuồng Chó, Ngã Năm Chuồng Chó...
Con mèo xán bể nồi rang, con chó chạy lại thì ăn phải
đòn: Quýt làm cam chịu.
Cửa chó (Lỗ chó chui) Tích: Án Tử (Tể tướng nước Tề) đi sứ sang nước Sở, vua Sở biết ông có ngoại hình rất thấp bé
(chưa đầy 1m40), nên cố tình hạ nhục ông cũng như hạ nhục nước Tề liền cho đóng một cái cửa nhỏ cao chỉ khoảng 1 mét ngay cạnh cổng
chính, rồi sai người bảo Án Tử: "Mời ngài đi qua lối cửa này để vào thành." Án Tử không chịu, bảo: "Sứ cẩu quốc giả, tòng cẩu môn nhập. Kim thần sứ Sở, bất đương tòng thử môn nhập." (Đi sứ nước chó thì mới đi vào bằng cửa chó. Nay tôi đi sứ nước Sở, không nên đi vào bằng cái cửa này). Vua Sở hổ thẹn, xin lỗi và rước vào cửa chính.
Dồi chó: Ruột chó độn lòng thịt băm, một loại xúc xích chó. Sống dương gian không ăn dồi chó, Chết về âm phủ không có àm ăn.
Đá mèo quèo chó: Thích gây sự.
Đai chó: Vòng đai đeo vào cổ để cột chó. Với chó giữ cừu, nhiều khi người ta còn đeo thêm vòng đai cổ tua tủa gai để chống lại chó sói.
Đánh chó dưới nước: Tấn công khi kẻ thù đã ngã ngựa cùng đường.
Đánh chó ngó chủ: Trách phạt bọn tôi tờ cũng phải nể mặt chủ nó.
Đánh chó ngó đàng sau: Tiến công kẻ xấu cũng
phải cẩn thận xem bè lũ của nó.
Đuổi chó mắng mèo- Mắng chó mắng mèo: Bóng gió xiên xỏ.
Hàm chó vó ngựa: Chỗ nguy hiểm.
Hu chó: Chắt lưỡi chách chác kèm theo tiếng hu hu để gọi chó.
Không chó mượn mèo ăn cứt: Cực chẳng đả phải dùng người không có khả năng.
Lạc đường nắm đuôi chó lạc ngõ nắm đuôi trâu: Bản năng ghi nhớ của các loài này.
Lên voi xuống chó: Cảnh thăng trầm trong cuộc đời.
Lưỡi chó: Chê kẻ có lưỡi dài.
Mèo đàng chó điếm: Kẻ ma cô bụi đời.
Mèo đến thì khó, chó đến thì giàu: Dị đoan.
Mèo hoang lại gặp chó hoang: Kẻ vô lại tụ bầy.
Mõm chó: Sự đời như chiếc lá đa, Đen như mõm chó chém cha sự đời.
Như chó với mèo: Chỉ sự xung khắc.
Nước lụt chó lên ngồi bàn thờ (bàn độc): Lũ cơ hội thừa cơ leo lên vũ đài chính trị.
Óc chó: quả hồ đào, có hình dạng bên trong giống não chó. Tên khoa học: Juglans regia.
Phim chó: Kiểu gọi khác của phim heo.
Quán thịt chó: Có nơi còn gọi một cách tếu táo là quán cờ tây (cầy tơ), mộc tồn (cây còn = con cầy)
Ráng mỡ gà thì gió, ráng máu chó thì mưa: Một cách dự báo thời tiết theo màu mây.
Rau heo cháo chó: Thức ăn dành cho các loài vật này. Chuyện tủn mủn hàng ngày.
Run như cầy sấy: Quá sợ sệt.
Sống dương gian không ăn dồi chó, chết về âm phủ không
có mà ăn: Bình tếu về món dồi chó.
Tấc ngấc như chó mất dái: Đau đớn, hụt hẫng.
Thính như chó săn: Tài nghe ngóng đánh hơi chuyện người khác của kẻ xấu.
Thịt chó: Kinh nghiệm dân gian thì thịt chó ngon dựa theo màu sắc lông: Nhất mực nhị vàng tam khoang tứ đốm.
Văn bia chó: Phan Bội Châu đã xây mộ và lập văn bia cho con Vá và con Ky trong vườn nhà mình. Con Vá bị mật thám Pháp đánh chết vào năm 1934. Cụ Phan thương xót lập mộ và dựng bia ghi danh nó là "Nghĩa dũng cẩu chi trủng" (Mộ con chó nghĩa dũng): "Vì có dũng nên liều chết phấn đấu. Vì có nghĩa nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó; người còn vậy, huống gì chó! Ôi! Con Vá nầy, đủ hai đức đó, há như ai kia, mặt người lòng thú, nghĩ thế mà đau, dựng bia mộ nó".
Sau khi con Vá mất, cụ nuôi con Ky. Đến năm 1937, con Ky qua đời. Cụ tiếp tục lập mộ và dựng tấm bia mang tên "Nhân trí cẩu "Ky" chi trủng" (Mộ con chó Ky có đức nhân và đức trí): "Người hơi có đức nhân thường kém về phần trí; người hơi có đức trí thường kém về phần nhân. Vừa trí vừa nhân thiệt là hiếm thấy! Ai ngờ con Ky này lại đủ hai đức ấy... Thấy người nghèo khổ thì nghếch đuôi mừng, thấy đứa giàu sang độc ác thì nhe răng cắn. Thế là trí. Chủ gặp hoạn nạn thì liều mình cứu hộ, chủ đau yếu thì bỏ ăn bỏ ngủ chăm chú giữ kề. Thế là nhân. Hỡi trời! Hỡi trời! Lòng ta đau đớn, phải tạc mấy lời. Đau đớn quá! Đau đớn quá! Kìa những hạng muông người!"
TỪ NGỮ LIÊN QUAN
Bạch cẩu hoàng đầu lưng đới ấn (Chó trắng, đầu vàng, lưng có chấm to): Chó tốt
tướng.
Cảnh khuyển:
Chó nghiệp vụ, chuyên săn tìm tội phạm
Cẩu (chó con chưa mọc lông)
không phải là khuyển (chó), giết cẩu không phải là giết khuyển (Cẩu giả, vị sinh mao chi tiểu khuyển dã, phi khuyển dã. Sát cẩu phi sát khuyển dã). Luận điểm ngụy biện của Công Tôn Long thời Chiến quốc.
Cẩu hợp:
Quan hệ nam nữ như thú vật.
Cẩu phanh (chó bị giết): Xảo điểu tận, lương cung tàng; thỏ tử, tẩu cẩu phanh (Thỏ tử cẩu phanh, điểu tận cung tàng) (Chim khôn đã hết thì cung tốt bị xếp xó; thỏ chết rồi thì chó săn bị nấu thịt). Thủ đoạn dùng người kiểu vắt chanh bỏ vỏ.
Cẩu tặc, khuyển tặc: Giặc chó, lời mắng kẻ vô lại.
Hải cẩu: Chó biển. Tên khoa học: Phocidae
Khuyển nho:
Trường phái triết học Hi Lạp do Anisthène (học trò của Socrate) lập ra khoảng
thế kỉ 5 (BC). Phái này khinh miệt các lề lối, lễ nghi của xã
hội và sống lang bạt, thường chế giễu những người qua đường. Người thời bấy giờ
khinh ghét, xem họ như bầy chó và thế là họ lấy luôn con chó làm biểu tượng cho mình.
Khuyển mã: Trâu ngựa, thân phận tôi đòi.
Khuyển phệ: Chó sủa. Vảng vảng kê minh nham hạ nguyệt, Hồi hồi khuyển phệ động trung xuân. (Văng vẳng có tiếng gà gáy nơi kẽ đá núi, Chó sủa từng hồi trong động xuân (Lưu Nguyễn du Thiên Thai)
Khuyển Ưng: Bọn côn đồ tay sai nhà Hoạn Thư trong Truyện Kiều đi đốt nhà bắt người (Ví như loài chim ưng chó săn).
Lạp cẩu, lạp khuyển: Chó săn.
Linh cẩu (tên khoa học: Hyaenidae) là một họ động vật có vú ăn thịt thuộc phân bộ Dạng mèo. Ngoại hình trông khá giống các loài thuộc họ chó, nhưng về mặt tiến hóa, linh cẩu lại có họ hàng gần với mèo và cầy hương hơn.
Nghĩa dũng cẩu, Nhân trí cẩu: Xem Văn bia chó.
Quân khuyển:
Lính nuôi và huấn luyện chó nghiệp vụ.
Thiên linh cẩu: Chó nhà trời. Hư truyền rằng chúng luôn đi ăn linh hồn người mới chết, thường xuất hiện những ngày đầu năm nên có tục trồng cây nêu để xua đuổi.
2018

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét