TIỂU HÙNG TINH
ảnh internet
Từ cảm thán (thán từ, từ cảm) thường xuất hiện trong câu cảm thán (câu cảm), thể hiện trạng huống cảm xúc đột ngột, cao độ.
Thống kê một số:
a, a ha, a ha ha - cha chả, chà chà, chèng ơi, chéng đéc ơi - e hèm - ha ha, ha hả, hà hà, hê, hê hê, hề hề, hi, hi hi, hơ, hơ hơ, hỡi, hỡi ơi, hô hô, hừ, hử, hức, hừm - mèng ơi, mèng đéc ơi - ô, ô hô, ô hô hô, ôi, ối - ơ, ơ hơ, ơi, ơi hỡi, ơi trời, ới, ới ơi - thôi, thôi thôi - trời, trời đất, trời ơi, trờ ơi đất hỡi - ui, ui, ui cha, ui chu cha, úi, úi chà, úi dà - xà, xì, xỉ, xuỵt - y, y hi, y hi hi, ý…
Hai vế đối chơi chữ: Ô! Quạ tha gà – Xà! Rắn bắt ngóe. Khởi đầu là các từ cảm thán mang âm thanh tỏ vẻ ngạc nhiên vừa mang nghĩa hai con vật quạ (ô) và rắn (xà), đối sánh từ Hán Việt và thuần Việt, đối chặt, gay!
Từ cảm thán thường được sử dụng nhiều nhất là trong các bài văn tế, nơi tập trung biểu hiện của những tình cảm bi thương thống thiết. Khi đi sứ Tàu, Mạc Đĩnh Chi có làm bài văn tế công chúa nhà Nguyên: Thanh thiên nhất đóa vân, Hồng lô nhất điểm tuyết, Thượng uyển nhất chi hoa, Quảng Hàn nhất phiến nguyệt. Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết! (Trời xanh một đóa mây, Lò hồng một điểm tuyết, Cung Quảng một mảnh trăng, Vườn thượng uyển một đóa hoa. Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết). Phần đầu tác giả dùng bút lực ngợi ca vẻ đẹp của tuyệt thế giai nhân, phần cuối dùng nhã ngữ kín đáo nói đến cái chết, giữa hai trạng thái ấy, tác giả dùng chữ Y, từ cảm thán đầy ma lực như bộc phát nỗi đau đớn tiếc thương tột cùng. Văn tế ngoại giao nhưng không dừng ở tính chất xã giao mà là áng văn tuyệt tác.
Văn tế biểu hiện tình cảm đau thương mất mát đối với người đã khuất, từ cảm xuất hiện giống như từng tiếng nấc trong chuỗi xót xa. Trong Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, mở đầu tác giả dùng hai tiếng cảm thán Hỡi ơi như kêu lớn lên như báo với đất trời, như gọi hồn người: Hỡi ơi! Súng giặc đất rền, Lòng dân trời tỏ… Rồi cũng dùng cụm từ cảm thán để mở một đoạn nỗi ngậm ngùi tiếc thương: Ôi thôi thôi! Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, Tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm… Ôi! Một trận khói tan nghìn năm tuyết rỡ… và kết thúc cũng bằng một cụm cảm thán: Hỡi ôi thương thay!
Sau khi Kiều giao kỉ vật nhờ Thúy Vân nối duyên cùng Kim Trọng, Nguyễn Du đã sử dụng liên hoàn các từ cảm thán như những tiếng nấc rồi ngất lịm từ nỗi đau của nhân vật Thúy Kiều: Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Tự Đức, ông vua thi sĩ này cũng khéo dùng lặp các tiếng cảm thán trong bài Khóc Bằng phi: Ới thị Bằng phi đã chết rồi! Ới tình ới nghĩa ới duyên ơi! Sự biến đột ngột, tâm trí chới với, hụt hẫng, tiếng nấc nghẹn ngào, ngôn từ như cũng bị chia tách, bị rời tan ra.
Bài Đường Thục khó (Thục đạo nan) của Lí Bạch (bản dịch của Ngô Tất Tố) sử dụng dồn dập một loạt từ cảm thán biểu hiện sự kinh ngạc, e ớn khiếp đảm tới mức không tưởng tượng được: Ối chà! Gớm! Hiểm mà cao thay! Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời! (Y hu hy! Nguy hồ cao tai! Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên!). Ở đây, tác giả chưa tả khung cảnh cụ thể, chỉ dùng các từ cảm thán giúp thể hiện trạng thái choáng ngợp tâm lí trước thiên nhiên hiểm trở.
Buồn
đau, lo âu, kinh sợ là
nôi của cảm thán, ngoài ra, nghịch lí trớ trêu tạo
sự kinh ngạc cũng là
nơi các từ cảm thán phát huy tác dụng qua tiếng cười châm
biếm. Thử đọc bài Việt kiều
tại chỗ của Tiểu Tử Văn (Báo Làng Cười- 1992)
http://butnguyentu.blogspot.com/2015/06/viet-kieu-tai-cho.html
Ơ kìa! Khách ngoại kiều sang
Chèng ơi! Mô-đéc dữ hen! Quá chời!
Việt kiều “hời hợt”- đúng rồi!
Mốt me bển quá chừng trời! Ngộ hen!
Đầu tóc nửa vàng nửa đen
Một chòm râu ót làm thành cái đuôi
Thằng Cu Heo! Té ra mày!
Mô-đen quá cỡ dòm hoài hổng ra!
Dưng không bỏ học dzậy cha?
30-8-26

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét