TIỂU HÙNG TINH
ảnh internet
Lâm Tuyền Kì Ngộ là truyện thơ gồm hơn trăm bài bát cú Đường luật, một tác phẩm khuyết danh. Nội dung dựa theo tích truyện Trung Quốc đời Đường miêu tả tình duyên giữa một nho sinh và con vượn bạch. Truyện thể hiện tính chất lãng mạn và nhân đạo, mạnh dạn biểu hiện những khát khao hạnh phúc của con người.
Bạch Viên (con vượn trắng) vốn là tiên nữ bị đày xuốn cõi trần, tìm đến chùa Phi Lai để tu hành:
“Đêm
thanh náu gót ngoài tăng viện
Ngày
vắng dâng hương trước Phật đài
Khấn
nguyện lòng này tam bảo chứng
Một
thuyền cứ khổ chở riêng ai”
Tiên bị trích, đi tu, ngày nghe kinh giáo, có bén chút mùi thiền nhưng lửa trần duyên chưa dứt cứ xáo động tâm can. Một thời gian, Bạch Viên bỏ chùa mà đi. Tuy có băn khoăn quyến luyến nhưng tiếng gọi tình, tiếng lòng thôi thúc đành gác lại kệ kinh. “Vì duyên cho phải thăm tìm thú”, “Cửa thiền bèn mới lánh chân ra”.
Bước tiếp theo, Bạch Viên hoá thành một tố nữ sắc nước hương trời mang họ Viên. Tình cảm nàng lúc này diễn biến khá phức tạp, khao khát thao thức, lo lắng, trông mong tình yêu đến độ:
“Ruột
tằm chín khúc tơ vò đỏ
Giấc
bướm năm canh diễn khắc vàng
Cửa
động những mong người mối lái
Bên
nguồn luống đợi khách tìm hương”
Có Tôn sinh (nho sinh họ Tôn) tên là Tôn Các trọ học ở Trường An về, lạc đường vào Thạch Tuyền. Viên thị sai đón Tôn Các vào nhà thăm hỏi, Tôn các giải bày hoàn cảnh, Viên thị cũng nói rõ lai lịch, giải bày tâm sự. Nàng xem cụôc gặp gỡ này là nhân duyên “Kim cải đã đành duyên mắc nối” và ngỏ lời gắn kết tóc tơ.
Thê rồi hai người kết duyên và sinh được hai con. Một hôm có nhà sư Nhàn Vân vốn là người quen của Tôn Các đi qua. Nhân biết Viên thị không phải là người trần liền mang gươm ra thử, gươm không gây hề hấn gì đến Viên thị vì nàng là tiên không phải yêu quái. Thế nhưng sự nghi ngờ của chồng làm tình cảm nàng tổn thương. Nàng trách chồng đã tin, đã nói thật, đã thề hẹn cùng nhau sao còn “nghe lời bội bạc”, nghe “lòng người bạc đen”…
Kì hạn dưới trần đã hết, Viên thị phải về tiên giới để phụng sự Thượng đế. Vợ chồng, mẹ con đau đớn chia tay. Cảnh gió cuốn mịt mù, sấm ran đưa nàng về trời:
“Hương
còn thoang thoảng đưa mùi xạ
Bóng
đã mờ mờ khuất bóng cây”
Lên tiên, sống trong cảnh tiên giới cực lạc nhưng mùi trần khôn dứt, Viên thị ngày ngày nhớ Tôn sinh:
“Gối phương mơ màng them tửong
nhớ
Gương
loan chung bóng những đau phiền”.
Và mong ước: “Hạnh nào lại được hợp
nhân duyên”.
Nỗi nhớ chồng con khôn dứt, nàng tâu
trình sự thật và xin Thượng đế cho từ giã cõi tiên xuống hạ giới để được trọn
nghĩa vợ chồng.
Riêng Tôn sinh , từ ngày xa Viên thị,
chàng nhớ nhung đau khổ:
“Thành sầu muôn dặm chồng xây ngất
Bể
thảm ba thu chất chứa đầy
Nửa
gối mơ màng tin điệp rủ
Năm
canh mong mỏi sứ hồng bay”.
Cảm thương, Thựong đế lại cho nàng
xuống trần đoàn tụ.
Gặp tiên là mô-típ thong thường trong các truyện thơ, truyện cổ: Tú
Uyên gặp Giáng Kiều trong Bích câu kì ngộ, Từ Thức gặp tiên… Nhưng nàng tiên bị
đày xuốn trần dưới lốt con vươn bạch, đi tu nhưng rồi bỏ chùa hoá thành tố nữ,
chủ động tỏ tình với nam giới rồi kết thành vợ chồng, hết hạn lưu đày trở về
tiên nhưng quyết xin xuống trần để được sống với tình yêu đó là đặc sắc của truyện
này.
Truyện hình thành theo lối ráp nối hơn trăm bài thơ Đường luật nên tính chặt chẽ của văn mạch bị hạn chế. Có điều, đây là truyện thơ Nôm sớm nhất (đầu thế kỉ 17) trong văn chương Việt Nam (Trung Quốc không có truyện thơ). Trong từng bài thơ, có thể chắt lọc được những câu hay, những ý tưởng đặc sắc. Toàn truyện cũng như trong từng bài thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, phản ánh những khát khao cháy bỏng về tình yêu, phản ánh những nét đẹp trong tình yêu và hơn cả là lòng thuỷ chung vợ chồng.
2004- Giáp Thân

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét