MỤC LỤC BLOG

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

CÂY LÀNG

Truyện ngắn của BÚT NGUYÊN TỬ

ảnh internet

          - Chú về đấy hả, sao, thấy làng mình có gì khác không?

          Ông Tư lụm cụm bước ra, nắm chặt tay tôi, ngắm nghía xoa xuýt một chặp rồi khoác vai kéo vào nhà. Tôi run run:

          - Khác lắm! Nhưng … cây bồ đề?

         Chưa đợi tôi dứt lời, ông Tư hất hàm:

          - Từ xa đã không còn thấy chứ gì? Tôi biết. Ai về thăm làng cũng hỏi. Cây mất mấy năm rồi. Đau! Tiếc! Ai ngờ nông nỗi! Tội lắm chú ạ!

          Tôi hỏi dồn:

          - Vì sao?

          - Thôi, nói chuyện khác đi, chuyện này nhắc nghĩ thêm mệt. Chú ngồi chơi, nhà còn một mình, để tôi đi đun ấm nước. Cả chục năm mới gặp, ngồi lại cho lâu một chút, tôi còn phải hỏi chuyện gia đình, chuyện làm ăn, chuyện đó đây chứ tôi già rồi, có đi đâu mà biết.

          Ông Tư đi vào trong, bái bộ dáng, giọng điệu lấp lửng làm tôi ngờ ngợ xốn xang. Làng tôi nghèo, nghề nông mà dân đông đồng ít nên tứ tán phiêu dạt gần phân nửa. Trong làng trước đến nay  không ai thành đạt vinh quy võng lọng hoặc có tiếng tăm gì một chút cho rạng danh làng. Một vùng đất bằng phẳng, phần ruộng phần ở phần nghĩa địa, có sông nhưng không gò đồi núi non gì đâu phải là nơi sơn thủy hữu tình. Trong làng chỉ có một ít kiến trúc nghè họ cũng tô tạc rồng rắn dạng kiểu thợ nề thô vụng dân dã cho có màu mè nơi tôn nghiêm thờ phụng, chẳng phải hoa văn độc đáo gì. Rồi chiến tranh đi qua, tất cả thành bình địa, chỉ trơ lại gạch đá vung vãi lổ chổ.

          Ông Tư tay xách ấm chè, tay kẹp hai cái tách bày ra, cười móm mém:

          - Nước chè chú ạ! Chè nhà, trồng ít cây là đủ uống, cây nhà lá vườn ấy mà, cũng là chút hương vị quê hương.

          Đẩy một tách chè xanh sóng sánh về phía tôi, ông Tư bưng tách mình lên thổi thổi ngụm một hớp, chép miệng bảo:

          - Chú hỏi  tôi mới nói chứ, cả  vùng biết đến làng Liêu mình đây là nhờ có cây bồ đề. Thiệt không nơi nào có được. Cây mà đi hàng vài ba cây số ngoái lại còn thấy, chợ về vài ba cây số đã thấy bóng làng. Giờ hết rồi!

          Đúng là cây bồ đề làng tôi ở vào chỗ đắc địa. Nó như bình phong án ngữ làm lệch dòng sông Vĩnh. Cứ  theo con đường cái dọc bờ, từ xa  mà ngắm mới thấy hết vẻ độc đáo. Trôi một dòng xanh xa dần rồi chuyển màu vun lên thành tán nấm lớn sậm thẩm giữa bầu trời nhạt vương mây trắng. Chợ về, đường xa gánh gồng kĩu kịt, cứ nhắm hướng cây mà tới, cây đâu làng đấy. Cây to dần, rõ dần, đến khi nghe  tiếng xào xạc, ngửng lên thì cây đã trùm mát rượi, đến làng rồi. Nghỉ một chút, thở phào nhẹ nhỏm. Cứ thế, bước chân lên tỉnh lại nhớ về làng.

          Ông Tư xoay xoay tách nước đăm chiêu:

          - Nghe đâu xưa bên cây bồ đề có ngôi chùa cổ, chắc cũng đất vua chùa làng phong cảnh Bụt ấy mà. Nhưng rồi chỉ còn tiếng, không còn chùa nữa, cỡ tuổi ông cụ tôi cũng chỉ nghe kể. Còn cây bồ đề trước là cây mưng khô, chim chóc  về đậu, tha hột bồ đề gieo xuống. Cây bồ đề mọc leo nhanh, chẳng bao lâu trùm phủ hẳn. Chả thế mà khi cây đổ, nghe đâu có phần lõi lạ trong đó. Không phải mình cây bồ đề mà cả vùng chùa xưa là rừng cổ thụ, cây to vài ba người ôm. Không biết làng thiếu tiền thiếu nợ hay bị áp lực  gì mà phải sang bán rừng cây cho lão  phú hào. Mà nghe đâu hồi đó đa phần dân làng đói khổ đều đem ruộng đất cầm cố để kiếm đỡ miếng ăn hoặc bị lão xiết nợ. Dân không  còn ruộng, đến mùa cấy gặt phải tới chực chầu xin cậu một bữa làm thuê. Năn nỉ lạy lục, được cậu ngúc thì ngày mai mới có chút bỏ miệng. Lão phú hào ra lệnh đốn hạ tất cả cổ thụ. Thợ ngại cây thiêng, lão hò hét ra búa chém một nhát trước, cây nào cũng vậy, thợ cứ theo đó  mà đốn. Hàng loạt cây chùa vật xuống ngổn ngang nhưng đến cây  bồ đề, không biết sao lão thối búa, cây nhờ vậy mà còn.

Tin dữ đồn thấu kinh thành, làng có người có quan tước danh vọng ở đó tức tốc chạy ngựa trạm về quê. Nhìn  đám  cây vật vã, ông vò  đầu kêu trời rằng đại thụ là tú khí đất trời, bị đốn hạ hết hỏi sao dân làng còn ngóc đầu lên nổi. Xong, ôm mặt khóc rồi đi biệt. Thời ấy trong làng có người làm đến lãnh   binh, tham tri, đô đốc nhưng đều yểu mạng. Nguồn mạch quan trường dứt hẳn từ đó.

Nhưng dẫu sao vẫn còn được cây bồ đề đại thụ với bao niềm hướng vọng. Quan nhất thời dân vạn đại, cứ gì phải quan, làm dân mà thuận thỏa dân tình, làng xóm yên bình là được.

Ông Tư  ngừng lại, với tay rót chêm thêm nước. Cây bồ đề lại hiện  ra trong tôi mồn một.

Ở làng quê xa xôi yên ắng thì cây bồ đề là một thế giới ồn ã tự nhiên. Gió. Với cây bồ đề sum suê cao lớn này thì hình như không bao giờ vắng gió. Muôn vạn lá lung lay sấp ngửa làm thành những thanh âm sôi chảy rộn ràng. Gió chạy, gió nhảy múa trong các đám lá, lay động làm từng ngọn lá vật vệch lếch lắc không chút ngưng nghỉ.

Nó là cây đại kiểng đơn độc nổi lên thành đụn táng tầng xanh om. Không biết còn ở đâu có cây to đến thế. Từng lớp cành nhánh chồng chéo vặn bọc lấy nhau  thành sóng, cuộn thành hốc chứa không biết bao nhiêu điều huyền bí. Mỗi lườn nhánh, mỗi dạng rễ tạo thành riêng  một thế như núi đồi, như sông rạch, như rắn rồng… Hiển hiện mà u ảo, lan dần rồi găm vào lòng đất chiếm chặt một vùng.

Cây huyền thoại cổ kính mà sung mãn. Cành mập sức tràn, đám lá xanh thẩm to dày hình trái tim mọng nhựa sữa. Cây bồ đế không dung các loài chim nhỏ, tiếng xáo xác rào rào của nó làm lũ chim sợ. Chim sâu chim sẻ dẫu cả bầy vẫn không dám lại, chỉ dám đậu ở bụi tre, nóc nhà xung quanh líu ríu dòm vào. Nhưng với loài bọ rầy thì khác. Vào những ngày hè, khi bóng chiều đổ xuống, không biết từ đâu cả hàng vạn con túa về bay đeo ngập các tán tạo thành âm thanh, tạo thành tiếng gió, rộn ràng một thế giới cây. Chúng vù lượn va đập cả vào người đi qua để tìm chỗ trú đêm. Bọn trẻ chúng tôi tha hồ cầm sào vợt quơ bắt. Mỗi đứa mỗi bọc rầy kêu lào xào, vui biết mấy!

          Rồi cứ hàng năm, vào cuối thu, bồ đề thay  lá. Lá bay tứ tán, cuốn xa đến tận cuối làng. Rồi những nhánh cành lại nhú mầm đậu trái, những que trái nhỏ non  màu xanh rồi già nâu lại, có vị chan chát ngầy ngậy. Rồi từng đôi chim lạ  đủ màu bay về, người bảo là chim phượng hoàng, người cho là chim trĩ. Chim có đuôi dài lúng liếng sặc sỡ, mào đỏ nổi như vương miện, sải cánh lớn oai phong. Chim thường bay vờn mấy vòng, cất tiếng  hót rồi đấu tít trên cao, lẫn vào tầng lá. Người làng thường túm tụm xa xa chỉ chỏ bàn tán. Có người hiếu kì lén lẻn tới gần, nép vào gốc cây tìm ngắm. Và rồi chuyện chim phượng truyền ra, người kể người nghe háo hức lạ lùng. Ai cũng tự hào làng mình sang, đất làng lành nên cây xanh chim quý đậu. Và cứ thế hàng năm, đến mùa cây đậu quả, lại mong chim về ăn trái.

          - Bom đạn chiến tranh là thế, bão lụt là thế, nhà cửa tan nát, miếu mạo hư hại, người chết… nhưng cây vẫn còn, vẫn vững- Giọng khản trầm của ông Tư càng thêm u uẩn- Thế mà cuối cùng cũng mất!

          - Nhưng    sao cây mất? Tôi hỏi  dồn

          Ông Tư vẫn như mơ  hồ:

          - Vì  trời ư, do người ư… Mà như có điềm chú ạ! Năm trước đó bỗng cây úa lá trước cả tháng, ai cũng bảo do thay đổi khí hậu ni na ni nô gì đó nên không để ý. Trận gió lốc cách đây ba năm  không giật nổi mấy tấm tranh mà hất cây ngã kềnh. Tiếng đập ầm rúng động đêm khuya. Sáng ra, cả làng chới với.

          Tôi thẩn thờ đứng dậy, ông Tư lớ quớ níu lấy tôi tiễn ra cổng, lặng thinh.  Tôi xa làng, luôn mang hình ảnh cây bồ đề trong tâm tưởng, nay về lại cố hương những mong tìm lại để chiêm ngưỡng, để mừng vui gửi gắm…Nhưng còn đâu… Khoảng trống khôn lấp… Giã làng, tất cả nhòa đi…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét