MỤC LỤC BLOG

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2025

VĂNG TỤC và VĂN CHƯƠNG

TIỂU  TỬ  VĂN

ảnh internet

            Văn  chương  là vẻ   sáng  đẹp của  ngôn ngữ, khác với những gì thô  tục thế có thể  chấp  nhận  văng tục  không, có thứ văn chương văng tục không? Văng tục   có được  xem là văn chương không là chuyện hạ hồi  phân giải,    điều văng  tục mượn  văn chương như  một  công  cụ  biểu đạt.

            Trong  văn chương, yếu tố tục nhiều  lắm, thường   được nói tránh   đi  bằng   cách ẩn  dụ,  chơi chữ, tục mà thanh, thanh  mà tục. Nguyễn  Du tả  cảnh  Thúy Kiều thất thân với Mã Giám Sinh: Tiếc thay  một  đóa  trà mi, Con  ong   đã  tỏ  đường  đi lối về. Bóng gió  cao tay, nói chuyện tục     rất thanh. Bà  Hồ Xuân Hương có lối chơi chữ lắt léo  tài  tình: Hỏi  thăm  sư cụ   đáo nơi neo, Tràng hạt  lần tay  đếm lại  đeo. Thuyền từ những muốn về Tây Trúc, Trái gió cho nên phải lộn  lèo.

            Đó là  nói về yếu tố tục  trong văn chương, còn  đây là  văng tục, là  tiếng chửi rủa, ngay  cả   trong ngôn ngữ hàng ngày còn  bị  cấm kị hỏi  sao có  cửa trong  văn chương, thế    nó vẫn tìm cách hiện diện trong văn chương  đấy!

            Cũng là  bà Hồ Xuân Hương, tiếng có  chồng nhưng chỉ  làm lẽ, lúc hứng tình lại là lúc thất  vọng vì không  được đáp  ứng, tức mình   xổ bực: Chém cha   cái kiếp lấy chồng chung, Một tháng  đôi lần  có cũng không. 

            Trong Đoạn  trường tân thanh, Kiều nhiều lần  bị Tú      rồi mẹ Hoạn Thư   mắng  xỉ. Mã Giám Sinh  mua  Kiều làm vợ lẽ, khi về nhà Tú bà (vợ Mã Giám Sinh), bà ta  bắt Kiều lạy và gọi mình   bằng mẹ, Kiều không chịu  và nói rõ mọi  sự. Tú bà nổi tam bành, mắng: Thôi đà  cướp sống  chồng  min (tao) đi rồi. Bà ta  lại mắng: Lão kia (chỉ Mã Giám Sinh)  có giở bài  bây, Chẳng văng  vào  mặt  sao  mày lại nghe… Gái tơ    đã ngứa nghề sớm sao! Bà trùm chúa đĩ cao giọng chửi Kiều (con gái nhà lành) là con đĩ, cay thật! Bà  mẹ  của Hoạn Thư còn mắng chửi  Kiều Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng phường  trốn chúa  thì  quân lộn chồng. Quý phái  đoan trang   như Kiều    rồi hoạn nạn dồn dập, đau đớn quá  cũng phải buông lời nguyền rủa: Chém cha  cái số hoa đào, Gỡ ra   rồi  lại buộc vào  như chơi.

            Mấy cô gái họp  nhau   hát  hò đối đáp, một cụ ông  đi  qua thấy vậy thách: - Tao  ra  đề, tụi  bay hò  được tao  cho thúng lúa. Mấy  cô đồng ý. Ông cụ ra: - Con c.ặc, hò  đi! Một cô  hò ngay: - Ơ hơ hơ! Bác là  phận tử (con), cháu là phận tôn (cháu), Bác có con cặc của bác thì cháu cũng  có cái l.ồn của  cháu đây (là  cháu ờ  hơ) đây! Văng  qua  đốp  lại đại tục tĩu, gặp phải cao thủ, cụ ông lép vế vái vái  xin thua, về  sai con bưng lúa ra trả.

            Thời  bao  cấp, mọi thứ  đều  phân phối, có kẻ  xổ bực: C.ứt    cũng phân  mà phân thì như c.ứt! Tưởng  phân  phối cho công bằng nào  ngờ  lộn xộn  rối rắm, khỏi nói năng gì nhiều, chỉ bằng  cách  xoay hai  từ theo  lối chơi chữ    văng tục một phát    lột tả mọi  sự.

            Các  nhà nhà nho xưa dù  đạo mạo thỉnh thoảng cũng không nén nổi văng tục. Tương truyền Cao    Quát bị tội xử chém, nơi pháp  trường, trước khi về bên kia thế giới đã  cảm thán theo  kiểu văng tục: Ba hồi  trống   giục mồ cha kiếp, Một nhát  gươm  đưa   bỏ mẹ  đời!  

Nguyễn  Công Trứ, một đại quan tài kiêm văn     cũng chua chát trước  sự  đời: Đ.éo mẹ  nhân tình   đã  biết rồi, Nhạt như nước ốc bạc như  vôi.  Có chuyện trụ  trì  chùa nọ có vế  đối tự  khoe: Đọc ba nghìn  sáu trăm quyển kinh, không thần thánh phật tiên nhưng khác tục, Nguyễn Công Trứ xem, nóng máy  đốp lại: Hay tám vạn ngàn tư mặc kệ, chẳng quân thần  phụ tử  đếch ra người.

Trong  Văn tế nghĩa    Cần Giuộc, một  áng văn  hùng tráng bi thương, không nén nổi căm giận, Nguyễn Đình Chiểu lên  án  và nhân đó chửi thẳng quân giặc:

Nhưng nghĩ rằng: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó!

Trong Văn tế  Francis Garnier (Ngạc Nhi, bị  quân Cờ Đen giết ở Ô Cầu Giấy  trong lần đánh  Hà Nội lần 1), tương   truyền  là của Nguyễn Khuyến, có  đoạn: Nào ngờ: Nó bắt được ông nó chặt  mất sỏ; Cái đầu ông  đâu cái đít ông  đó. Khốn nạn thân ông; Đù  mẹ cha nó! Chửi nó  nhưng mà chửi  đổng, chửi  đổng nhưng chính là chửi nó, bóng gió nhưng sắc  hơn trực diện, ngón cao tay của cụ Tam Nguyên  là vậy.

Trần Tế Xương, nhà thơ trào phúng gay gắt. Khi nghe một ông  quan xuất thân trong  gia đình lương y nhưng dốt nát được cử vào chấm thi, ông  viết: Sơ khảo  khoa này bác cử Nhu, Thực là  vừa dốt lại  vừa ngu. Văn chương nào  phải là đơn thuốc, Chớ có khuyên xằng chết  bỏ  bu. Thi hỏng liên  miên (Tám khoa chưa khỏi phạm  trường  quy), cho rằng cái tên Trần Tế Xương xui xẻo liền đổi ra Trần Cao  Xương để  xả xui nhưng nào ngờ vô thi lại đọc nhầm chữ nên hỏng- xui tiếp, thế    chửi: Tế đổi  thành Cao mà  chó thế, KIỆN (楗 ) trông ra TIỆP (捷)  hỡi trời ôi!  Có lúc thấy  mình bất  lực, dồn hết gánh nặng gia  đình cho vợ, thương  vợ, ông  tự chửi  đổng  mình: Cha  mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ  hững cũng như   không.

Thời thực  dân cai trị, khi còn làm thủ hiến được một nhà nho tặng bức trướng có  4 chữ: ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN (bề  tôi giữ  vị trí lớn lao), Nguyễn Văn Tâm đắc ý đem khoe. Sau   có người bảo kín: Đại là to, điểm là chấm, quần thần  là bầy tôi, đại  điểm  quần thần lái lại là chó Tâm bồi  Tây, lão  méo mặt hủy luôn bức trướng. Chơi chữ  để  chửi, thâm nho mà!

Trong  truyện Chí Phèo, Nam Cao cho Chí Phèo, một  nhân vật chuyên say  xỉn  rạch   mặt  ăn vạ, cứ  rượu vào  là  chửi nhưng nội  dung chửi  thế  nào không thấy, chỉ thấy  y  vừa  đi  vừa chửi nhưng  rồi cả làng     Đại ai cũng nghĩ  nó chửi người   ta còn  chừa  mình ra  nên chẳng  ai ra  mặt. Chửi  không ai đáp  khác  gì chọc tức, cuối cùng chửi luôn thằng nào  con nào sinh  ra  mình nhưng  mà y là đứa con hoang vô thừa nhận bị  bỏ  rơi ở  lò gạch. Bế tắc thì chửi nhưng  càng chửi  càng bế tắc, âu  đây cũng là khía cạnh bi  đát của nhân vật Chí Phèo.

Có thể nói Mất gà  là bài chửi hay, dữ  dội, có bài  có bản, có  vở  có màn, lớp lang, vần vè tung hứng, độc  địa và độc đáo: Cha họ sống, họ chết, họ hết, họ còn, họ trên dương gian, họ dưới âm phủ nhà mày, đội mũ lên mà nghe những lời bà chửi, bà rủa, đổ vào cửa vào nhà, vào chỗ ăn chỗ nằm nhà mày… Cha năm đời mười đời, đôi ba mươi đời nhà mày. Bà còn đào mồ cuốc mả, khai quật bật săng nhà mày lên, bà không tha cho mày đâu!

Nhiều người thừa nhận bài thơ Tau chưởi của Trần Vàng Sao  là bài  chửi kinh   dị  khốc liệt  nhất, văng nhưng  không tục, bùng nổ dữ  dội, ác miệng  dữ mồm, vừa chửi  vừa  rủa, lời lẽ vô  cùng độc  địa. Xin trích một đoạn:

mười hai nhánh họ bây

cao tằng cố tổ bây

tiên sư cha bây

tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén

xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng

tau chưởi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ

mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm

tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc

đọa xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu

tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàng

đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ

bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra

cũng phải tránh xa

tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn

sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn

chết không được mà sống cũng không được

tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết…

Chửi cho cạn tàu ráo  máng, chửi đến sơn cùng thủy tận, hết chữ hết nghĩa, ác mồm ác miệng, ngôn từ cay nghiệt hiểm độc tột độ, các nhà chửi  xưa nay  chắc cũng vái ông này làm vua- vua chửi!

12-8-25

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét