TIỂU TỬ VĂN
ảnh internet
Văn chương là vẻ sáng đẹp của ngôn ngữ, khác với những gì thô tục thế có thể chấp nhận văng tục không, có thứ văn chương văng tục không? Văng tục có được xem là văn chương không là chuyện hạ hồi phân giải, có điều văng tục mượn văn chương như một công cụ biểu đạt.
Trong văn chương, yếu tố tục nhiều lắm, thường được nói tránh đi bằng cách ẩn dụ, chơi chữ, tục mà thanh, thanh mà tục. Nguyễn Du tả cảnh Thúy Kiều thất thân với Mã Giám Sinh: Tiếc thay một đóa trà mi, Con ong đã tỏ đường đi lối về. Bóng gió cao tay, nói chuyện tục mà rất thanh. Bà Hồ Xuân Hương có lối chơi chữ lắt léo tài tình: Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo, Tràng hạt lần tay đếm lại đeo. Thuyền từ những muốn về Tây Trúc, Trái gió cho nên phải lộn lèo.
Đó là nói về yếu tố tục trong văn chương, còn đây là văng tục, là tiếng chửi rủa, ngay cả trong ngôn ngữ hàng ngày còn bị cấm kị hỏi sao có cửa trong văn chương, thế mà nó vẫn tìm cách hiện diện trong văn chương đấy!
Cũng là bà Hồ Xuân Hương, tiếng có chồng nhưng chỉ làm lẽ, lúc hứng tình lại là lúc thất vọng vì không được đáp ứng, tức mình xổ bực: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, Một tháng đôi lần có cũng không.
Trong Đoạn trường tân thanh, Kiều nhiều lần bị Tú bà rồi mẹ Hoạn Thư mắng xỉ. Mã Giám Sinh mua Kiều làm vợ lẽ, khi về nhà Tú bà (vợ Mã Giám Sinh), bà ta bắt Kiều lạy và gọi mình bằng mẹ, Kiều không chịu và nói rõ mọi sự. Tú bà nổi tam bành, mắng: Thôi đà cướp sống chồng min (tao) đi rồi. Bà ta lại mắng: Lão kia (chỉ Mã Giám Sinh) có giở bài bây, Chẳng văng vào mặt sao mày lại nghe… Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao! Bà trùm chúa đĩ cao giọng chửi Kiều (con gái nhà lành) là con đĩ, cay thật! Bà mẹ của Hoạn Thư còn mắng chửi Kiều Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng. Quý phái đoan trang như Kiều mà rồi hoạn nạn dồn dập, đau đớn quá cũng phải buông lời nguyền rủa: Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi.
Mấy cô gái họp nhau hát hò đối đáp, một cụ ông đi qua thấy vậy thách: - Tao ra đề, tụi bay hò được tao cho thúng lúa. Mấy cô đồng ý. Ông cụ ra: - Con c.ặc, hò đi! Một cô hò ngay: - Ơ hơ hơ! Bác là phận tử (con), cháu là phận tôn (cháu), Bác có con cặc của bác thì cháu cũng có cái l.ồn của cháu đây (là cháu ờ hơ) đây! Văng qua đốp lại đại tục tĩu, gặp phải cao thủ, cụ ông lép vế vái vái xin thua, về sai con bưng lúa ra trả.
Thời bao cấp, mọi thứ đều phân phối, có kẻ xổ bực: C.ứt gì cũng phân mà phân thì như c.ứt! Tưởng phân phối cho công bằng nào ngờ lộn xộn rối rắm, khỏi nói năng gì nhiều, chỉ bằng cách xoay hai từ theo lối chơi chữ mà văng tục một phát là lột tả mọi sự.
Các nhà nhà nho xưa dù đạo mạo thỉnh thoảng cũng không nén nổi văng tục. Tương truyền Cao Bá Quát bị tội xử chém, nơi pháp trường, trước khi về bên kia thế giới đã cảm thán theo kiểu văng tục: Ba hồi trống giục mồ cha kiếp, Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời!
Nguyễn Công Trứ, một đại quan tài kiêm văn võ cũng chua chát trước sự đời: Đ.éo mẹ nhân tình đã biết rồi, Nhạt như nước ốc bạc như vôi. Có chuyện trụ trì chùa nọ có vế đối tự khoe: Đọc ba nghìn sáu trăm quyển kinh, không thần thánh phật tiên nhưng khác tục, Nguyễn Công Trứ xem, nóng máy đốp lại: Hay tám vạn ngàn tư mặc kệ, chẳng quân thần phụ tử đếch ra người.
Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một áng văn hùng tráng bi thương, không nén nổi căm giận, Nguyễn Đình Chiểu lên án và nhân đó chửi thẳng quân giặc:
Nhưng nghĩ rằng: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó!
Trong Văn tế Francis Garnier (Ngạc Nhi, bị quân Cờ Đen giết ở Ô Cầu Giấy trong lần đánh Hà Nội lần 1), tương truyền là của Nguyễn Khuyến, có đoạn: Nào ngờ: Nó bắt được ông nó chặt mất sỏ; Cái đầu ông đâu cái đít ông đó. Khốn nạn thân ông; Đù mẹ cha nó! Chửi nó nhưng mà chửi đổng, chửi đổng nhưng chính là chửi nó, bóng gió nhưng sắc hơn trực diện, ngón cao tay của cụ Tam Nguyên là vậy.
Trần Tế Xương, nhà thơ trào phúng gay gắt. Khi nghe một ông quan xuất thân trong gia đình lương y nhưng dốt nát được cử vào chấm thi, ông viết: Sơ khảo khoa này bác cử Nhu, Thực là vừa dốt lại vừa ngu. Văn chương nào phải là đơn thuốc, Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu. Thi hỏng liên miên (Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy), cho rằng cái tên Trần Tế Xương xui xẻo liền đổi ra Trần Cao Xương để xả xui nhưng nào ngờ vô thi lại đọc nhầm chữ nên hỏng- xui tiếp, thế là chửi: Tế đổi thành Cao mà chó thế, KIỆN (楗 ) trông ra TIỆP (捷) hỡi trời ôi! Có lúc thấy mình bất lực, dồn hết gánh nặng gia đình cho vợ, thương vợ, ông tự chửi đổng mình: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không.
Thời thực dân cai trị, khi còn làm thủ hiến được một nhà nho tặng bức trướng có 4 chữ: ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN (bề tôi giữ vị trí lớn lao), Nguyễn Văn Tâm đắc ý đem khoe. Sau có người bảo kín: Đại là to, điểm là chấm, quần thần là bầy tôi, đại điểm quần thần lái lại là chó Tâm bồi Tây, lão méo mặt hủy luôn bức trướng. Chơi chữ để chửi, thâm nho mà!
Trong truyện Chí Phèo, Nam Cao cho Chí Phèo, một nhân vật chuyên say xỉn rạch mặt ăn vạ, cứ rượu vào là chửi nhưng nội dung chửi thế nào không thấy, chỉ thấy y vừa đi vừa chửi nhưng rồi cả làng Vũ Đại ai cũng nghĩ nó chửi người ta còn chừa mình ra nên chẳng ai ra mặt. Chửi không ai đáp khác gì chọc tức, cuối cùng chửi luôn thằng nào con nào sinh ra mình nhưng mà y là đứa con hoang vô thừa nhận bị bỏ rơi ở lò gạch. Bế tắc thì chửi nhưng càng chửi càng bế tắc, âu đây cũng là khía cạnh bi đát của nhân vật Chí Phèo.
Có thể nói Mất gà là bài chửi hay, dữ dội, có bài có bản, có vở có màn, lớp lang, vần vè tung hứng, độc địa và độc đáo: Cha họ sống, họ chết, họ hết, họ còn, họ trên dương gian, họ dưới âm phủ nhà mày, đội mũ lên mà nghe những lời bà chửi, bà rủa, đổ vào cửa vào nhà, vào chỗ ăn chỗ nằm nhà mày… Cha năm đời mười đời, đôi ba mươi đời nhà mày. Bà còn đào mồ cuốc mả, khai quật bật săng nhà mày lên, bà không tha cho mày đâu!
Nhiều người thừa nhận bài thơ Tau chưởi của Trần Vàng Sao là bài chửi kinh dị khốc liệt nhất, văng nhưng không tục, bùng nổ dữ dội, ác miệng dữ mồm, vừa chửi vừa rủa, lời lẽ vô cùng độc địa. Xin trích một đoạn:
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chưởi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đọa xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàng
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết…
Chửi cho cạn tàu ráo máng, chửi đến sơn cùng thủy tận, hết chữ hết nghĩa, ác mồm ác miệng, ngôn từ cay nghiệt hiểm độc tột độ, các nhà chửi xưa nay chắc cũng vái ông này làm vua- vua chửi!
12-8-25
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét