Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Biện giả CÔNG TÔN LONG và thuyết BẠCH MÃ PHI MÃ

NGUYỄN VĂN HÙNG
butnguyentu.blogspot.com 
Ảnh internet
Kết quả hình ảnh cho công tôn long


1. Công Tôn Long người thời Chiến quốc, sống vào khoảng 325-250 BC. Sách Công Tôn Long tử còn truyền lại 6 thiên. Ngoài ra, tư tưởng của ông và các biện giả khác được đề cập đến trong các tác phẩm của Huệ Thi và Trang tử. Trong thiên Thiên hạ của Nam Hoa kinh có đề cập đến 21 việc (21 tư tưởng) và nhận định: “Huệ Thi cho thế là cách nhìn rộng ở đời, mang ra mà hiểu bảo các biện giả. Các biện giả trong thiên hạ cùng nhau lấy đó làm vui…Các biện giả đem những chuyện ấy đối đáp với Huệ Thi, suốt đời không hết. Hoàn Đàm, Công Tôn Long cũng thuộc bọn biện giả, tô điểm lòng người, thay đổi ý người, thắng được miệng người, không phục được lòng  người…” (Dẫn theo 1, 458)
Rõ ràng Trang tử xem Công Tôn Long, Huệ Thi và các biện giả khác là những kẻ ngụy biện, quỷ biện (biên luận quái đản), lung lạc trí óc người khác, làm cho người khác khẩu phục nhưng tâm không phục. Thậm chí có người còn xem các biện giả mà công Tôn Long là đại biểu là loại làm loạn đời, dùng danh nhiễu loạn cái thực.


1.2. Huệ Thi và Công Tôn Long đều  bị phê phán. Tuy vậy, hai ông có những chủ trương tư tưởng khác nhau. Huệ Thi không coi trọng Danh, ông xuất phát từ Thực, cho rằng thời gian dài ngắn, không gian to nhỏ đều tương đối, tính chất sự vật là tương đối, có thể biến hóa. “Trứng có lông” (noãn hữu mao- Trứng gà, trứng chim không có lông nhưng có thể nở thành gà, thành chim  có lông như vậy là trứng có lông), “Đàn bà có râu” (nữ hữu tu- Đàn bà không râu nhưng có thể sinh  đưa con trai có râu như vậy là đàn bà có râu). Vạn vật dưới trời vừa giống vừa khác nhau đó chính là thuyết Hợp đồng dị (bàn về cái giống nhau và cái khác nhau có thể kết hợp). Kết luận logic của thuyết này là trời đất nhất thể, yêu thương tất cả.

1.3. Khác với Huệ Thi, Công Tôn Long không chú trọng thực, ông bắt đầu từ Danh, nhấn mạnh sự sai biệt giữa từ (hình thức diễn đạt của ngôn ngữ) và khái niệm (hình thức tư duy). Đồn rằng, có lần ông cỡi ngựa qua ải, bi bắt nộp thuế ngựa, ông la lớn: “Ngựa trắng không phải là ngựa” (Bạch mã phi mã) rồi ung dung đi qua. Đề mục ngụy biện tiêu biểu nhất của ông là Li kiên bạch (cứng và trắng tách biệt): Đá hoa cương trắng nhìn thì không biết độ cứng mà chỉ biết trắng, do vậy nó không cứng. Sờ thì biết nó cứng, không biết nó trắng, vậy  là nó không trắng. Lập luận mang tính chất duy tâm chủ quan, bám danh lìa thực, “làm loạn” cái thực.

2. Đồng thời với thuyết Bạch mã phi mã cũng có những tư tưởng tương đồng: Cẩu (chó con chưa mọc lông) không phải là khuyển (chó), giết cẩu không phải là giết khuyển. Kẻ trộm là người. Nhiều kẻ trộm không phải là nhiều người. Yêu thương kẻ trộm không phải là yêu thương người. Giết kẻ trộm không phải là giết người. Những tư tưởng này có thể hiểu được khi tìm hiểu thuyết bạch mã phi mã.

2.1. Luận về sự đồng dị (giống và khác) thì mọi dự đồng dị đều không tuyệt đối. Đứng về mặt tự tướng (Hình dáng riêng) thì mọi sự khác nhau. Đứng về cộng tướng thì mọi sự giống nhau (cùng một thể). Như vậy, sự vật vừa giống nhau vừa khác nhau.
Thiên Bạch mã luận sách Công Tôn Long tử viết: “Ngựa là dùng để chỉ cái hình. Trắng dùng để gọi sắc. Tìm ngựa vàng ngựa đen đều có thể được. Tìm ngựa trắng thì ngựa vàng ngựa đen không thể được. Ngựa vàng ngựa đen đều là một loài ngựa, nhưng chỉ cung ứng việc có ngựa, không thể cung ứng việc có ngực trắng. Thế thì ngựa trắng không phải là ngựa là rõ ràng lắm vậy. Con ngựa nếu không chọn ở màu sắc thì ngựa vàng ngựa đen đều có thể ứng được. Ngựa trắng thì đã chọn xong màu sắc; ngựa vàng ngựa đen đều bị loại bỏ vì khác màu. Cho nên chỉ có ngựa trắng là có thể ứng được mà thôi” (Dẫn theo 1,468)
Như vậy Ngựa trắng không phải là ngựa ở đây được hiểu theo tự tướng (màu sắc riêng, khai thác sự dị biệt).
 Quy ước : N : ngựa, Nt : ngựa trắng,          Nv ; ngựa vàng,  Nđ : ngựa đen.
Diễn đạt:
            - Nt không phải N vì N chỉ hình ngựa nói chung còn Nt chỉ sắc trắng của ngựa.
- Nt không phải là Nv và Nđ. Nv và Nđ tuy có hình chung với Nt nhưng khác sắc. Ở đây chỉ lưu ý sắc nên Nt khác (không phải) Nv và Nđ.
- Ngựa đây được hiểu là ngựa (chỉ chung) và các loài ngựa khác (không phải ngựa trắng) nên Công Tôn Long nói ngựa trắng không phải là ngựa.

            2.2. Ngày nay, dựa vào Logic học hình thức, ta có thể thiết lập quan hệ giữa ngựa trắng (Nt) và ngựa (N).

            2.2.1. Xét về nội hàm:
                        - Ngựa trắng (Nt): Nội hàm sâu, phong phú (ngoại diên hẹp).
                        - Ngựa (N): nội hàm cạn, ít thuộc tính (ngoại diên rộng)
            Thuộc tính sắc trắng trong ngựa trắng không phải là thuộc tính chung của ngựa và không phải là thuộc tính của các loài ngựa khác. Cái riêng của ngựa trắng là sắc trắng. Chính sắc trắng là thuộc tính quyết định  giúp phân biệt ngựa trắng và ngựa khác đồng thời tách khái niệm ngựa trắng ra khỏi khái niệm ngựa nói chung. Khi nói ngựa trắng tức là chú ý thuộc tính sắc trắng để phân biệt.
          2.2.2. Xét về ngoại diên hai khái niệm ngựa và ngựa trắng:                                              

Diễn đạt::       Mọi ngựa trắng đều là ngựa.
                        Một số ngựa là ngựa trắng.
                        Một số ngựa không phải là ngựa trắng.
Nói : Mọi loài ngựa đều là ngựa trắng  là một phán đoán sai. Cách diễn đạt Ngựa trắng không phải là ngựa của Công Tôn Long không chính xác.
            Xét ngoại  diên ngựa trắng (N) vói các khái niệm ngựa vàng (Nv) và ngựa đen (Nđ)
  
            Đây là quan hệ giữa các loại (espece) trong cùng một chủng (genere) còn gọi là quan hệ  đồng thuộc  (ngang hàng). Có thể phát biểu: Ngựa trắng không phải là ngựa vàng, không phải là ngựa đen. Rõ ràng cách diễn đạt Ngựa trắng không phải là ngựa là phi logic.

            3. Nắm được khuynh hướng tư tưởng của Công Tôn Long là trọng Danh hơn Thực, nhấn mạnh mặt tự tướng hơn là cộng tướng của sự vật, dùng logic hình thức ta có thể nắm và phê phán được thuyết Bạch mã phi mã và những tư tưởng khác của ông.
            Cách hiểu, nhận thức của Công Tôn Long chỉ nhấn mạnh cái đặc trưng, nhấn mạnh đến mức tuyệt đối hóa thuộc tính riêng biệt, tách lìa khỏi cái chung một cách cực đoan, chỉ nhấn mạnh yếu tố nội hàm mà chưa xác lập được quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên dẫn đến ngụy biện.
            Lối tư biện của Công Tôn Long và các biện giả đương thời đã gạt bỏ sự tổng hợp kinh nghiệm cảm quan, rơi vào quỷ biện. “Có điều, sự cố gắng theo đuổi những khái niệm thuần túy trừu tượng của họ đã mở ra con đường đi vào lĩnh vực siêu hình tượng của triết học Trung Quốc, thúc đẩy sự phát triển của Logic học” (4, 43)

            Thư mục:

1.      Trung Quốc triết học sử, Hồ Thích, Khai trí, SG, 1970.
2.      Chiến Quốc sách, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Trẻ, HCM, 1989.
3.      Bách gia chư tử, Thảo Đường dịch, Hội NCGDVH, HCM, 1991.
4.      Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Lương Duy Thứ dịch, VHTT, 1991


2 nhận xét:

  1. dù chỉ hiểu chút xíu nhưng rất cảm ơn tác giả

    Trả lờiXóa
  2. cảm ơn tác giả đã post bài. đọc loạn đầu với mấy ông biện giả này

    Trả lờiXóa