ảnh internet
Chết mang nghĩa trung tính, do gắn với sự mất mát thương đau nên chết được biến đổi dưới dạng nói giảm, nói tránh để tỏ lòng thương xót, trân trọng thành từ trần, tử nạn, đi, đi xa, mất, viên tịch, lìa đời, hi sinh, tiêu diêu miền Cực lạc...Với quan niệm sinh kí tử quy (sống gửi thác về), xem cõi sống là cõi tạm, chết là về với vĩnh cửu nên gọi chết là về: về nơi tiên cảnh, về chốn suối vàng, về miền Cực lạc, về cõi vĩnh hằng, về trời, về cõi Phật, về nước Chúa, Chúa gọi về…
Tuy vậy, chết đáng thương lại còn mang nghịch lí tếu táo cười cợt thành đáng kiếp như đi bụi, đi đời, đi đong, đi tong, đi đứt, đứt bóng, đi buôn muối, “đai” (die), tiêu tùng, tiêu gien, tiêu đời, cắt hộ khẩu, đi gặp ông vải, lên bàn thờ, lên bàn thờ ngắm gà lõa thể, chuyển qua từ trần, tiêu mạng, vong mạng, tiêu đứt sinh mạng, tiêu táng đường…
Chết xuất hiện với tần số lớn trong lời chửi bới, nguyền rủa: chết băm, chết vằm, chết ngáp, chó chết, gà chết, chết giãy, chết dịch, chết tiệt, chết toi, chết cha chết mẹ mày, …
Chết trở thành ngôn từ cửa miệng tỏ vẻ tán thán bất lực: chết cha, chết mẹ, chết chửa, chết rồi, chết chắc, chết hết, chịu chết… Đi sau là dấu chấm than (!)
Trong văn chương, chết xuất hiện
dưới dạng này dạng khác, nhất là
trong văn tế, trong những đoạn văn miêu tả
cảnh chiến trận. Không thể không nhắc đến bài Văn tế
công chúa nhà Nguyên do Mạc Đĩnh
Chi ứng tác khi đi
sứ Trung Hoa: Thanh thiên nhất đóa
vân- Hồng lô nhất điểm tuyết- Thượng
uyển nhất chi hoa- Quảng Hàn nhất phiến nguyệt- Y!
Vân tán tuyết tiêu hoa tàn nguyệt khuyết. (Trời xanh một áng mây, Lò
hồng một điểm tuyết, Vườn thượng
uyển một đóa hoa, Cung Quảng Hàn
một mảnh trăng). Bốn câu đầu tả trang tuyệt thế giai nhân, câu cuối
tả cái chết như sự mất
mát của
tinh hoa, vũ trụ: Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết! Sự thể hiện cao tay khi sử dụng phép nhã ngữ.
Trần
Tế Xương, Tám khoa chưa khỏi phạm trường
quy, trở thành chuyên gia thi hỏng
đã có lời thề dọa
trước khi đi thi: Mai
không tên tớ tớ đi ngay, Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày. Không
nói chết, mà là nói chết. Các tướng xưa ra trận thường đe đối
phương, ghi lấy, ngày này sang năm là giỗ đầu nhà ngươi đó! Nghe phải rùng mình. Trong
cuộc sống, lắm khi người ta
dọa mỉa nhau: Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ! Chết là điều không ai biết trước được, lo âu bằng thừa cho nên phó mặc con tạo, Trời kêu ai nấy dạ cho khỏe. Nghe
đâu, nhân ngày tết, Trạng Quỳnh
đến thăm nhà một người quen và mở
lời: Chúc cho nhà ấy trăm người chết, Cha trước con sau cháu trước chắt… Chủ nhà hoảng
kinh bảo sau tết nhất
sao nói chuyện chết chóc hàng loạt
xúi quẩy thế này, Trạng cười giải thích rằng như vậy
là đại phúc, sống thọ, chết theo
ngôi thứ tuần tự cả trăm đời, không bị tuyệt tự hoang tàn… Nói chết thực ra là chúc sống, chủ nhà ngẫm ra, tạ ơn.
Da ngựa bọc thây (mã cách khỏa thi), thành ngữ nói về cái chết
nơi chiến trường xuất từ lời của Mã Viện
(danh tướng đời Hán): Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay
bọn đàn bà con trẻ cơ chứ. Có người tếu táo
dịch là chết trên bụng
đàn bà. Chết đau nhất có thể nói là cái chết lãng xẹt, Ao hồ không chết chết vũng trâu đằm, có người còn bảo là chết bãi cứt trâu.
Sống chết là hai khái niệm đối lập, chết vinh hơn sống nhục, cách xử sự vấn đề lớn này trở thành nhân sinh quan nhiều thế hệ, được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ trong Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc:
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt gặm bánh mì nghe càng thêm hổ...
Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ...
Càng tán thán cái chết vì chính đạo chính nghĩa thì càng mỉa mai cái chết theo tà đạo phi nghĩa. Francis
Garnier (Ngạc Nhi) dẫn quân Pháp
đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, bị
quân Cờ Đen giết ở Ô Cầu
Giấy, có người (tương truyền là Nguyễn
Khuyến) đã tế ông Tây này một một
bài độc:
Than ôi!
Một
phút sa cơ, ra người thiên cổ.
Nhớ
ông xưa:
Cái
mắt ông xanh, cái da ông đỏ.
Cái
tóc ông quăn, cái mũi ông lõ.
Đít
ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó.
Ông
đeo súng lục liên, ông đi giày có mỏ.
Ông
ở bên Tây, ông sang bảo hộ.
Ông
dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ.
Nào
ngờ:
Nó
bắt được ông, nó chặt mất sỏ.
Cái
đầu ông đâu, cái đít ông đó.
Khốn
nạn thân ông, đù mẹ cha nó!
Văn tế mà vừa tế
vừa bêu, bêu rồi bỡn,
kể lể cái giọng lấp lửng cà rỡn, cuối cùng chửi đổng không những đối với người chết mà cả tổ tiên nhà nó, thâm sâu đến muôn đời, văn độc tế kẻ ác độc, thế mới xứng!
Chết là hết, lắm kẻ trước cái chết chẳng những không run
sợ mà còn thách thức, bỡn cợt. Câu đối
sau tương truyền của Cao Bá Quát
khi ra pháp trường: Ba hồi trống
giục mồ cha kiếp, Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời!
Cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Yên
Bái phút cuối bị lộ nhưng không
thể trì hoãn, đảng trưởng
Nguyễn Thái Học đã tuyên một câu: Không thành công thì thành nhân! Chấp nhận
cái chết không chỉ của cá nhân
mà cả tập thể, kết cục 12 chí sĩ lên đoạn đầu đài.
Chết là cùng, hết lo hết sợ hết cả e dè mà tỏ ra coi thường, liều lĩnh thậm chí thách thức nào Chết trẻ khỏe ma, Một hóa long hai xong máu, Chó chết mèo cũng le lưỡi, Muốn chết lết vô săng (hòm, quan tài), Chính chuyên chết cũng ra ma, Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng…
Nói chuyện chết không thể không nói đến triết lí sinh tồn trong Nam Hoa kinh của Trang Tử. Rằng Trang Tử cùng đồ đệ qua một khu rừng, thấy người tiều phu gác búa trước gốc đa, hỏi sao không đốn, bảo: Sù sì, gỗ tạp, đốn làm gì! Trang Tử quay qua đồ đệ: Các con thấy đấy, bất tài mới sống! Thầy trò tiếp tục đi đến nhà bạn Trang Tử, chủ nhà sai đầy tớ thịt chim gáy đãi khách. Đầy tớ hỏi thịt con nào, chủ bảo thịt con không biết gáy. Nghe vậy, bọn đệ tử quay qua Trang Tử: Thầy bảo bất tài mới sống còn bây giờ bất tài phải chết, thầy xử thế nào? Trang Tử đáp: Ta ở giữa! (ý Trang Tử là chớ để lộ tài năng, tài phải làm như bất tài, trí phải giả ngu mới tồn tại được). Cha ông xưa cũng có câu: Khôn chết, dại chết, biết sống chắc cũng hàm ý triết lí này.
8-10-26

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét