MỤC LỤC BLOG

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

CHỮ CHẾT (Tạp luận)

TIỂU  HÙNG TINH
ảnh internet

            Chết   mang nghĩa  trung tính, do gắn  với sự mất  mát thương  đau  nên chết được  biến  đổi dưới dạng nói   giảm, nói tránh để  tỏ  lòng  thương xót, trân  trọng  thành từ trần, tử nạn, đi, đi  xa, mất, viên tịch, lìa đời, hi sinh, tiêu diêu  miền Cực lạc...Với quan niệm sinh  kí tử  quy (sống gửi thác về), xem cõi  sống   là  cõi  tạm, chết  là về  với vĩnh  cửu  nên gọi  chết  là về: về  nơi  tiên cảnh, về  chốn suối vàng, về  miền  Cực lạc, về  cõi vĩnh hằng,  về  trời, về  cõi  Phật, về nước Chúa, Chúa   gọi về…

            Tuy vậy,  chết đáng thương lại  còn  mang  nghịch lí tếu táo cười cợt thành đáng kiếp như  đi bụi, đi  đời, đi đong, đi tong, đi đứt, đứt  bóng,  đi buôn  muối, “đai” (die), tiêu  tùng, tiêu gien, tiêu đời, cắt  hộ  khẩu,  đi gặp ông vải, lên bàn thờ, lên bàn thờ ngắm gà lõa thể, chuyển  qua từ trần, tiêu mạng,  vong  mạng, tiêu đứt sinh mạng, tiêu táng  đường…

            Chết  xuất hiện với tần số  lớn   trong lời chửi  bới, nguyền rủa: chết  băm, chết vằm, chết ngáp, chó chết, gà  chết, chết  giãy, chết  dịch, chết  tiệt, chết toi, chết cha chết  mẹ  mày, …

            Chết   trở thành  ngôn từ  cửa  miệng  tỏ  vẻ tán thán bất  lực: chết cha, chết  mẹ, chết chửa, chết rồi, chết chắc, chết  hết, chịu  chết… Đi  sau là   dấu chấm than (!)

            Trong  văn chương, chết   xuất hiện  dưới dạng này dạng khác, nhất là  trong văn tế, trong những   đoạn  văn miêu tả  cảnh  chiến trận. Không thể  không nhắc đến   bài Văn tế   công chúa nhà Nguyên  do Mạc Đĩnh Chi  ứng tác  khi đi  sứ Trung Hoa: Thanh thiên nhất  đóa  vân- Hồng  lô nhất điểm tuyết- Thượng uyển nhất chi hoa- Quảng Hàn nhất  phiến  nguyệt- Y!  Vân tán tuyết tiêu hoa tàn nguyệt khuyết. (Trời  xanh  một  áng mây, Lò  hồng  một điểm tuyết, Vườn thượng uyển  một đóa hoa, Cung  Quảng Hàn   một mảnh trăng). Bốn  câu đầu tả  trang tuyệt thế giai nhân,  câu  cuối tả  cái chết như  sự   mất mát  của  tinh hoa, vũ  trụ: Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết! Sự thể hiện cao tay  khi sử   dụng  phép  nhã ngữ.

            Trần Tế  Xương, Tám khoa chưa khỏi phạm  trường quy,  trở thành chuyên gia thi  hỏng   đã  có lời thề  dọa  trước khi  đi thi: Mai  không tên tớ  tớ  đi ngay, Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày. Không nói chết, mà là nói chết. Các  tướng   xưa ra trận thường   đe  đối phương, ghi lấy, ngày  này sang năm  là  giỗ  đầu nhà ngươi đó! Nghe phải rùng mình. Trong cuộc  sống, lắm  khi người ta  dọa mỉa nhau: Chưa thấy  quan tài chưa đổ  lệ!  Chết  là  điều  không  ai biết trước được, lo âu bằng thừa cho nên phó  mặc con tạo, Trời kêu ai nấy  dạ cho khỏe.  Nghe  đâu, nhân ngày tết, Trạng Quỳnh   đến thăm nhà một người  quen   và  mở lời: Chúc cho nhà  ấy trăm người chết, Cha  trước con sau cháu trước chắt… Chủ nhà hoảng kinh   bảo  sau tết nhất  sao nói chuyện chết  chóc hàng loạt xúi  quẩy thế này, Trạng  cười giải thích  rằng như vậy  là đại  phúc, sống thọ, chết theo ngôi thứ tuần tự cả trăm  đời, không bị tuyệt tự hoang tàn… Nói  chết thực ra là chúc sống, chủ nhà ngẫm ra,  tạ ơn.
            Da  ngựa  bọc thây (mã  cách khỏa thi), thành ngữ nói về  cái chết  nơi chiến trường xuất từ  lời của  Mã  Viện (danh  tướng đời Hán): Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ cơ chứ. Có người tếu táo  dịch  là chết  trên  bụng đàn bà. Chết  đau nhất  có thể nói là  cái chết  lãng  xẹt, Ao  hồ  không chết  chết vũng trâu  đằm, có người còn bảo là chết bãi cứt trâu.
            Sống chết là  hai khái niệm đối lập, chết  vinh   hơn sống nhục, cách xử   sự  vấn đề  lớn này trở thành nhân sinh  quan nhiều thế hệ,  được Nguyễn Đình  Chiểu  thể  hiện  rõ  trong Văn tế  nghĩa  sĩ cần Giuộc:
            Sống  làm chi   theo  quân tả  đạo, quăng  vùa hương  xô bàn độc thấy  lại  thêm buồn; Sống làm chi  ở lính  mã  tà, chia rượu lạt gặm bánh  mì nghe  càng thêm
hổ...
            Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ
...
             Càng tán thán cái chết  vì chính đạo chính nghĩa  thì  càng mỉa  mai  cái chết  theo tà  đạo phi nghĩa.
Francis Garnier (Ngạc Nhi)  dẫn  quân Pháp  đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, bị   quân Cờ Đen giết ở Ô Cầu  Giấy, có người (tương truyền  là Nguyễn Khuyến) đã tế  ông Tây này một một bài độc:

        Than ôi!
        Một phút sa cơ, ra người thiên cổ.
        Nhớ ông xưa:
        Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ.
        Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ.
        Đít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó.
        Ông đeo súng lục liên, ông đi giày có mỏ.
        Ông ở bên Tây, ông sang bảo hộ.
        Ông dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ.
        Nào ngờ:
        Nó bắt được ông, nó chặt mất sỏ.
        Cái đầu ông đâu, cái đít ông đó.
        Khốn nạn thân ông, đù mẹ cha nó!

        Văn tế  mà  vừa tế  vừa bêu, bêu rồi bỡn, kể  lể cái giọng lấp lửng cà  rỡn, cuối cùng  chửi đổng  không những  đối với người chết mà  cả tổ tiên nhà nó, thâm sâu đến muôn đời, văn độc tế  kẻ ác độc, thế  mới xứng!

            Chết  là hết, lắm kẻ   trước cái chết chẳng những  không run  sợ  mà còn thách thức, bỡn cợt. Câu  đối  sau  tương truyền của Cao  Bá Quát  khi  ra pháp  trường: Ba  hồi  trống giục mồ cha kiếp, Một nhát  gươm đưa bỏ mẹ  đời!  Cuộc khởi  nghĩa chống Pháp ở Yên  Bái phút cuối  bị lộ nhưng không thể  trì hoãn, đảng  trưởng  Nguyễn Thái  Học  đã tuyên một câu: Không thành công thì thành nhân! Chấp  nhận  cái chết không chỉ của  cá  nhân  mà cả tập thể, kết cục  12 chí sĩ  lên đoạn  đầu đài.

            Chết  là  cùng, hết lo hết sợ hết cả e  dè mà  tỏ ra  coi thường, liều lĩnh thậm chí thách thức nào  Chết trẻ  khỏe  ma, Một hóa long hai xong máu, Chó chết  mèo cũng le lưỡi, Muốn chết  lết  vô săng (hòm, quan tài), Chính chuyên chết cũng ra  ma, Lẳng lơ  chết cũng  đem ra ngoài đồng…

            Nói  chuyện chết   không thể  không nói  đến  triết  lí  sinh tồn  trong Nam Hoa kinh  của Trang Tử. Rằng Trang Tử  cùng  đồ  đệ   qua  một khu rừng, thấy  người tiều phu gác  búa  trước gốc đa, hỏi  sao không  đốn, bảo: Sù  sì, gỗ tạp, đốn làm gì! Trang Tử  quay  qua  đồ  đệ: Các con thấy  đấy, bất tài mới  sống! Thầy trò  tiếp tục  đi đến nhà bạn  Trang Tử, chủ  nhà  sai đầy tớ thịt chim gáy đãi khách. Đầy tớ  hỏi thịt con nào,   chủ bảo  thịt con không biết gáy. Nghe vậy, bọn  đệ tử  quay   qua  Trang Tử: Thầy bảo  bất  tài mới sống  còn bây giờ bất tài  phải chết, thầy   xử thế nào? Trang Tử đáp: Ta ở  giữa! (ý Trang Tử   là chớ để lộ tài năng,   tài phải làm như bất tài, trí phải giả ngu  mới tồn tại được). Cha ông  xưa  cũng  có câu: Khôn chết, dại chết, biết sống chắc  cũng hàm ý  triết  lí này.

8-10-26
           

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét