MỤC LỤC BLOG

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

GIAI THOẠI VỀ NGUYỄN CÔNG TRỨ

TIỂU  HÙNG TINH
ảnh internet

            Nguyễn Công  Trứ (1778-1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, quê  làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, Hà  Tĩnh, là nhà chính trị, nhà quân sự và nhà thơ, làm quan qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

            Tương  truyền rằng năm 1803, lúc Gia Long tuần thú  Bắc Hà  ngang  qua  Hà Tĩnh, ông đón đường dâng  Thái bình thập  sách (Mười kế sách làm  cho đất nước thái  bình). Gia  Long  để ý đến tài nhưng  chưa  dùng, cố ghìm cho bớt tính ngông ngạo, do vậy ông  lận đận khoa cử, mãi tới  năm  41 tuổi (1819) mới đổ  Giải nguyên (đứng  đầu  kì thi Hương  Nghệ  An) và  được  bổ  làm một chức   quan nhỏ ở  triều đình.

            Hoạn  lộ thăng trầm, lắm  khi  bị   cách 3-4  cấp, trảm  giam hậu (giam chờ chém)  rồi tha, cách tuột chức  bắt  làm lính thú ở   Quảng Ngãi. Có người hỏi nhục không, ông khẳng khái: Làm tướng  tôi chẳng lấy   làm vinh thì làm lính  có gì là nhục.  Làm Dinh  điền sứ, ông  có công tổ chức đắp đê lần biển thành lập  hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải,  được   dân chúng   nhớ ơn, lập miếu thờ  sống. Có kẻ   dèm pha rằng  ông có ý đồ làm phản. Minh  Mạng triệu hồi, mớm hỏi làm quan  vùng  đất mới có chuyện  gì lạ không,  ông thưa  rằng  có câu đố lạ: Đem thân cho  thế gian ngồi- Rồi ra  mang   tiếng  con người bất trung. Vua  hỏi  đố về  cái  gì,  ông  đáp: Cái phản! Vua hiểu  chuyện, bỏ  qua.

            Tính  phóng khoáng ngang  tàng, quan  triều không ưa. Có  lần Hà Tông Quyền (Tham  tri, Cơ mật  viện) giễu ông: Quân tử ố  kì văn chi trứ (Người quân tử ghét cái vẻ bề ngoài phô trương, loè loẹt- lấy trong sách  Trung  dung  đồng thời  móc tên  ông  ra  mỉa: Người  quân tử ghét  khi nghe  cái tên Trứ). Ông   đáp lại: Thánh nhân  bất đắc  dĩ   dụng  quyền (Bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến quyền biến-  cố  đá lại tên: Thánh  nhân bất đắc  dĩ  mới dùng ông   Quyền). Đối chặt, chỉnh, tám lượng nửa cân.
            Quãng  đời làm quan, sau bao lần bị  gièm pha suýt mất mạng, cuối cùng về giữ chức  Phũ   doãn Thừa Thiên, ông không cỡi ngựa mà  cỡi  bò:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
          Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
          Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
          Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
          Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
          Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng…

                                        (Bài ca ngất ngưởng)

            Nghe  đâu, có lần ông đánh   xe  bò cái tới chơi nhà một vị   quan, quan  liền  đưa mời hai miếng trầu (ý là  muốn lỡm hai vợ  chồng). Ông không nói gì, đến khi về mới    lấy  mo nang  treo lên  che phần dưới đuôi  bò và  ghi:

            Xuống ngựa lên  xe  lắm cũng nhàm
            Lợm mùi tiến chức với thăng  quan
            Trần  gian dạo chiếc xe bò cái
            Sẵn miếng mo bưng miệng thế gian
.

            Ngang tàng  không những  với quan  mà khinh lờn cả  với sư (bậc tu hành  người ta thường tôn kính). Nghe đâu có  vị   sư đặt một vế đối tự  ca ngợi mình: Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần (thần thánh phật tiên) nhưng khác tục! Nguyễn Công Trứ cay cú đốp lại: Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người! Xung   đột   không phải cá nhân  mà ý hướng, nhân sinh  quan giữa Nho và Phật.   
            Trong  chùa   có  biển đề Khuyến thiện trừng   dâm (khuyến khích điều thiện, trừng  phạt tà  dâm), Cứu nhân độ thế (cứu ngưới  giúp đời), Nguyễn Công Trứ móc lại: Khuyến thiện  trừng dâm, con ai đẻ tháng Tư ngày Tám (không  dâm  sao có Phật). Cứu nhân độ thế, của  ai mất một phải  đền  mười (của chùa  mất một  đền mười). Phóng khoáng   đến bất chấp, đi vãn cảnh chùa ông còn  đem theo hầu gái:
            Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
           Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
           Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. (Bài ca ngất ngưởng)

Nghe  đâu  đến năm 73  tuổi, ông  còn cưới hầu non và  đây   là  những lời đối đáp  đêm tân hôn: Tân nương tá vấn tân lang  kỉ- Ngũ thập niên tiền nhị thập  tam (Nàng  ướm hỏi tuổi, chàng bảo năm mươi năm trước  anh hai mươi ba). Ông mê  và   sáng tác nhiều  bài hát nói, thuở hàn  vi,  có khi  làm kép đàn cho các  đào  nương  ca. Một lần, cùng  đào  nương tới nơi biểu  diễn,  ngang   qua  chốn đồng không mông quạnh, hứng tình,  kép đè đào ra làm  cái chuyện  không thể nói nên lời… Đến  khi đỗ  đạt làm quan to, một lần Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng, tổ  chức đàn hát, có đào  nương  cất giọng: Giang   sơn một gánh  giữa đồng- Thuyền quyên ứ hự anh  hùng nhớ  không? Nguyễn Công Trứ nhận  ra và  cưới ngay làm hầu  thiếp  xem như nối lại  tình   xưa. Chẳng thèm úp mở  giấu diếm, Nguyễn Công Trứ  công khai chuyện  hầu non hưởng lạc thế nhưng  lại có  quan niệm nghiệt ngã về thân phận những cô gái làng chơi. Ông  là người  phê phán gay gắt nhất đối  với nhân vật Thúy Kiều:


… Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải,

Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
          Bấy giờ Kiều còn hiếu vào  đâu
          Mà  bướm chán ong chường cho đến thế
          Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,

Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!
          Bán mình trong bấy nhiêu năm,

Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai!

Theo ông, Kiều là cô gái dâm loàn không  đáng  sống, lẽ ra  nàng  phải  chết ngay  khi  sa  vào  nhà thổ. Đúng là dễ  mình khó người, mình phóng túng nhưng   với người thì nghiệt ngã  tối  đa.
            Là  con người  tích cực nhập  thế, thơ văn hừng hực  chí nam nhi, khai phá   đất đai, đánh  đông  dẹp  bắc, đến   khi nghe   quân Pháp  đổ  bộ vào  Đà Nẵng (1858), tuy già  cả Nguyễn Công Trứ   vẫn  dâng   sớ  xin cầm quân diệt  giặc. Triều  đình  không  đồng ý. Ông  mất năm đó, thọ  80 tuổi. Một tấm gương tích cực nhập  thế hoạt  động vì lợi ích nhân quần cũng  là  một cuộc đời sôi động của một nghệ sĩ tài  hoa.

4-10-26

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét