TIỂU HÙNG TINH
ảnh internet
Nguyễn
Công Trứ (1778-1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, là nhà chính trị, nhà quân sự và nhà
thơ, làm quan qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Tương truyền rằng năm 1803, lúc Gia Long tuần thú Bắc Hà ngang qua Hà Tĩnh, ông đón đường dâng Thái bình thập sách (Mười kế sách làm cho đất nước thái bình). Gia Long để ý đến tài nhưng chưa dùng, cố ghìm cho bớt tính ngông ngạo, do vậy ông lận đận khoa cử, mãi tới năm 41 tuổi (1819) mới đổ Giải nguyên (đứng đầu kì thi Hương Nghệ An) và được bổ làm một chức quan nhỏ ở triều đình.
Hoạn lộ thăng trầm, lắm khi bị cách 3-4 cấp, trảm giam hậu (giam chờ chém) rồi tha, cách tuột chức bắt làm lính thú ở Quảng Ngãi. Có người hỏi nhục không, ông khẳng khái: Làm tướng tôi chẳng lấy làm vinh thì làm lính có gì là nhục. Làm Dinh điền sứ, ông có công tổ chức đắp đê lần biển thành lập hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải, được dân chúng nhớ ơn, lập miếu thờ sống. Có kẻ dèm pha rằng ông có ý đồ làm phản. Minh Mạng triệu hồi, mớm hỏi làm quan vùng đất mới có chuyện gì lạ không, ông thưa rằng có câu đố lạ: Đem thân cho thế gian ngồi- Rồi ra mang tiếng con người bất trung. Vua hỏi đố về cái gì, ông đáp: Cái phản! Vua hiểu chuyện, bỏ qua.
Tính phóng khoáng ngang tàng, quan
triều không ưa. Có lần Hà Tông
Quyền (Tham tri, Cơ mật viện) giễu ông: Quân tử ố kì văn chi trứ (Người
quân tử ghét cái vẻ bề ngoài phô trương, loè loẹt- lấy trong sách Trung dung
đồng thời móc tên ông
ra mỉa: Người quân tử ghét
khi nghe cái tên Trứ). Ông đáp lại: Thánh
nhân bất đắc dĩ dụng quyền (Bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải
dùng đến quyền biến- cố đá lại tên: Thánh nhân bất đắc
dĩ mới dùng ông Quyền). Đối chặt, chỉnh, tám lượng nửa cân.
Quãng đời làm quan, sau bao lần bị gièm pha suýt mất mạng, cuối cùng về giữ chức Phũ
doãn Thừa Thiên, ông không cỡi ngựa mà
cỡi bò:
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng…
(Bài ca ngất ngưởng)
Nghe đâu, có lần ông đánh xe bò cái tới chơi nhà một vị quan, quan liền đưa mời hai miếng trầu (ý là muốn lỡm hai vợ chồng). Ông không nói gì, đến khi về mới lấy mo nang treo lên che phần dưới đuôi bò và ghi:
Xuống ngựa lên xe lắm
cũng nhàm
Lợm mùi tiến chức với
thăng quan
Trần gian dạo chiếc xe bò cái
Sẵn miếng mo bưng miệng thế
gian.
Ngang
tàng không những với quan
mà khinh lờn cả với sư (bậc tu hành người ta thường tôn kính). Nghe đâu có vị sư
đặt một vế đối tự ca ngợi mình: Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa
thánh thần (thần thánh phật tiên) nhưng khác tục! Nguyễn Công Trứ cay cú đốp
lại: Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần
phụ tử đếch ra người! Xung đột không phải cá nhân mà ý hướng, nhân sinh quan giữa Nho và Phật.
Trong chùa
có biển đề Khuyến thiện trừng dâm (khuyến khích điều thiện, trừng phạt tà
dâm), Cứu nhân độ thế (cứu ngưới
giúp đời), Nguyễn Công Trứ móc lại: Khuyến
thiện trừng dâm, con ai đẻ tháng Tư ngày
Tám (không dâm sao có Phật). Cứu nhân độ thế, của ai mất một
phải đền
mười (của chùa mất một đền mười). Phóng khoáng đến bất chấp, đi vãn cảnh chùa ông còn đem theo hầu gái:
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. (Bài ca ngất ngưởng)
Nghe đâu đến năm 73 tuổi, ông còn cưới hầu non và đây là những lời đối đáp đêm tân hôn: Tân nương tá vấn tân lang kỉ- Ngũ thập niên tiền nhị thập tam (Nàng ướm hỏi tuổi, chàng bảo năm mươi năm trước anh hai mươi ba). Ông mê và sáng tác nhiều bài hát nói, thuở hàn vi, có khi làm kép đàn cho các đào nương ca. Một lần, cùng đào nương tới nơi biểu diễn, ngang qua chốn đồng không mông quạnh, hứng tình, kép đè đào ra làm cái chuyện không thể nói nên lời… Đến khi đỗ đạt làm quan to, một lần Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng, tổ chức đàn hát, có đào nương cất giọng: Giang sơn một gánh giữa đồng- Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ không? Nguyễn Công Trứ nhận ra và cưới ngay làm hầu thiếp xem như nối lại tình xưa. Chẳng thèm úp mở giấu diếm, Nguyễn Công Trứ công khai chuyện hầu non hưởng lạc thế nhưng lại có quan niệm nghiệt ngã về thân phận những cô gái làng chơi. Ông là người phê phán gay gắt nhất đối với nhân vật Thúy Kiều:
… Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải,
Cánh hoa tàn
đem bán lại chốn thanh lâu.
Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu
Mà bướm chán ong chường cho đến thế
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết
nghĩa,
Đoạn trường
cho đáng kiếp tà dâm!
Bán mình trong bấy nhiêu năm,
Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai!
Theo ông, Kiều là cô
gái dâm loàn không đáng sống, lẽ ra
nàng phải chết ngay
khi sa vào
nhà thổ. Đúng là dễ mình khó người,
mình phóng túng nhưng với người thì
nghiệt ngã tối đa.
Là con người
tích cực nhập thế, thơ văn hừng hực chí nam nhi, khai phá đất đai, đánh
đông dẹp bắc, đến
khi nghe quân Pháp đổ bộ
vào Đà Nẵng (1858), tuy già cả Nguyễn Công Trứ vẫn
dâng sớ xin cầm quân diệt giặc. Triều
đình không đồng ý. Ông
mất năm đó, thọ 80 tuổi. Một tấm
gương tích cực nhập thế hoạt động vì lợi ích nhân quần cũng là một
cuộc đời sôi động của một nghệ sĩ
tài hoa.
4-10-26
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét